Showing posts with label Các phần mềm ứng dụng. Show all posts
Showing posts with label Các phần mềm ứng dụng. Show all posts

3/2/10

Game trên Linux


Game trên Linux.


Tôi không phải người mê chơi game. Tuy nhiên, đôi khi việc cài được game lên Linux cũng là một việc cần làm nếu muốn phổ biến Linux cho những người thích game. Dưới dây là một vài thứ sưu tầm được.



I. Cài hơn 120 Linux game


Djl là một phần mềm quản lý game nguồn mở. Nó cho phép xem mô tả, hình ảnh và cài đặt, gỡ bỏ hơn 120 Linux game (tính đến thời điểm này) từ các kho phần mềm.


Danh sách các game xem tại đây.


Để cài Djl lên Ubuntu, trước hết phải cài hai gói python và python-qt4 (có trong kho phần mềm của Ubuntu).


Tải về từ đây gói cài đặt djl-1.2.20.tar.gz


Giải nén gói trên thành thư mục djl. Mở terminal tại thư mục djl rồi chạy lệnh:


./djl.sh . Màn hình sau xuất hiện:



Đánh dấu chọn mục cuối cùng: Enable dependencies downloading if needed để chương trình tải về các file phụ cần thiết khi cài game. Nhấn nút Save, đợi một lúc để tải tiếp djl về cài, màn hình sau xuất hiện:



Tab News cho biết thông tin về các phiên bản game mới cập nhật. Tab Repository cho chọn, xem trước thông tin về từng game và nếu muốn cài thì nhấn nút Install.


Lần sau muốn chạy djl chỉ cần nhấn chuột vào file djl.sh nói trên rồi nhấn tiếp nút Run.



II. Cài Windows game bằng wine


Như đã biết, wine là phần mềm tạo lập môi trường Windows trong Linux để chạy các phần mềm Windows trên Linux, vì vậy cũng có thể cài một số game Windows được.


Trước tiên phải cài wine có trong kho phần mềm Ubuntu. Sau khi cài wine, trong thư mục Home sẽ xuất hiện thư mục ẩn, ví dụ /home/zxc/.wine/drive_c. Trong thư mục drive_c có hai thư mục Programe Files và Windows. Các Windows game sẽ được cài vào thư mục Programe Files.


Bây giờ chỉ cần bỏ đĩa CD cài game vào ổ CD rồi nhấn vào file setup.exe cài như với Windows.


Không phải Windows game nào cũng cài lên wine được. Danh sách các game cài được xem ở đây. Trong đó, Platinum List là các game chạy tốt (Warcrap III, Half-Life 2,...), Gold List cần phải có động tác cấu hình riêng (Final Fantasy XI, World of Warcrap 3.2,...), v.v....



III. PlayOnLinux


PlayOnLinux là phần mềm nguồn mở hỗ trợ việc cài Windows game lên wine đơn giản hơn. Trước tiên phải cài gói playonlinux có trong kho phần mềm của Ubuntu. Sau khi cài xong, chạy từ menu Applications → Games → PlayOnLinux. Màn hình chính xuất hiện, nhấn vào nút Install đi tới màn hình sau:


PlayOnLinux không chỉ để cài game mà còn cài nhiều phần mềm Windows nữa vào Linux như hình trên cho thấy.



IV. Các phần mềm thương mại


CrossOver games và Cedega là hai phần mềm chuyên để cài các Windows game lên Linux. Tuy nhiên chúng là các phần mềm thương mại, phải trả tiền.





2/25/10

Phần mềm nguồn mở “Hệ thống thông tin địa lý” GIS (Geographic Information System)


Phần mềm “Hệ thống thông tin địa lý” GIS (Geographic Information System) nguồn mở


( Tôi không thạo về cái này. Giới thiệu để thấy khả năng ứng dụng của Linux. Chắc là so với MapInfo chẳng hạn thì có thể chưa bằng nhưng “giết gà không dùng dao mổ trâu” có thể lại là đủ).


Quantum GIS (QGIS) là bộ phần mềm hệ thống thông tin địa lý (Geographic Information System – GIS) nguồn mở chạy trên Linux, Unix, Mac OS và Windows. QGIS hỗ trợ các định dạng file ảnh raster, ảnh vector và lưu thông tin trong một cơ sở dữ liệu. Phiên bản hiện tại là 1.3.0. Giấy phép sử dụng GNU Public License.



Một số tính năng chính:





  • Xem và chồng lớp các dữ liệu ảnh vector và raster theo các format khác nhau, dưới các góc nhìn khác nhau mà không cần chuyển đổi về một format chung. Các format được hỗ trợ gồm:








    • một phần bảng cơ sở dữ liệu PostgreSQL dùng công nghệ PostGIS và SpatiaLite,




    • phần lớn các định dạng ảnh vector trong thư viện OGR library*, gồm: ESRI shapefiles, MapInfo, SDTS và GML.




    • các định dạng ảnh raster trong thư viện GDAL library*, như các mô hình ảnh số hóa (digital elevation models), không ảnh (aerial photography) hoặc ảnh vệ tinh landsat,




    • định vị bản đồ GRASS




    • dữ liệu vệ tinh OGC-compliant WMS hoặc WFS;








  • Tạo bản đồ và khai thác dữ liệu vệ tinh qua một giao diện đồ họa. Có nhiều công cụ đi kèm.






  • Tạo, biên soạn và xuất dữ liệu vệ tinh bằng:








    • các công cụ số hóa GRASS ,




    • plugin tham chiếu địa lý,




    • các công cụ GPS để xuất nhập định dạng GPX, chuyển đổi các định dạng GPS thành GPX, hoặc download/upload trực tiếp dữ liệu với một thiết bị định vị vệ tinh GPS.







Cài đặt Quantum GIS trong Ubuntu Karmic


Mở terminal và chạy lệnh sau để add kho phần mềm chứa Quantum GIS:



sudo add-apt-repository ppa:ubuntugis/ubuntugis-unstable/

Cập nhật kho phần mềm bằng lệnh:



sudo apt-get update

Cài đặt bằng lệnh:



sudo apt-get install qgis

2/8/10

Tăng tốc duyệt web bằng cách chọn máy chủ DNS nhanh nhất.


Tăng tốc duyệt web bằng cách chọn máy chủ DNS nhanh nhất.


Khi ta gọi một số điện thoại theo tên (vd: Nguyễn Văn Hùng), máy điện thoại sẽ tra danh bạ để tìm số điện thoại tương ứng rồi quay số. Tương tự, khi gõ một địa chỉ web (vd: www.abc.com) vào trình duyệt, địa chỉ đó được gửi đến một máy chủ tên miền DNS (Domain Name System) để tìm địa chỉ IP tương ứng (ví dụ: 209.162.32.58), gửi trả lại cho trình duyệt, rồi sau đó lệnh kết nối mới được gửi đến máy chủ có IP đó (hiểu đơn giản thì như vậy, thực tế còn phức tạp hơn). Động tác tìm địa chỉ IP của một địa chỉ web gọi là phân giải tên miền.


Như vậy máy chủ DNS là danh bạ Internet. Trên Internet có vô số những máy chủ DNS (Google Public DNS, OpenDNS, UltraDNS, v.v...). Thông thường, thường dùng máy chủ DNS của nhà cung cấp dịch vụ Internet. Nhưng cũng có thể chọn các máy chủ DNS nhanh hơn để tăng tốc duyệt web. Tốc độ phân giải tên miền phụ thuộc:





  • Máy chủ DNS có ở gần máy trạm đang duyệt web không.




  • Tốc độ tra cứu tìm địa chỉ IP có nhanh không.




Phần mềm namebench là bộ công cụ nguồn mở để tìm máy chủ DNS nhanh nhất. Website của nó tại đây.


1- Cài đặt:


Ubuntu cần cài thêm gói python-tk, Windows XP, Vista cài thêm gói Visual C++ từ đây, Mandriva cài thêm gói tkinter.


Với Linux, tải gói namebench-1.1.tgz từ đây. Giải nén nó thành thư mục namebench-1.1. Có hai cách dùng:





  • Nhấn đúp vào file namebench.py để chạy trực tiếp.




  • Cài đặt bằng cách mở terminal tại thư mục namebench-1.1 rồi chạy lệnh sudo python setup.py install (với Ubuntu). Mandriva cài bị báo lỗi.




2- Sử dụng:


Màn hình namebench như sau:



Trong ô Nameservers có địa chỉ IP của hai máy chủ DNS hiện đang dùng. Nhấn nút Start Benchmark, chương trình bắt đầu chạy. Kết quả sẽ xuất hiện trong trình duyệt như sau:



Ô bên trái cho biết, dùng Google Public DNS-2 nhanh hơn DNS của FPT là 36%. Ô bên phải cho danh sách các máy chủ DNS nên dùng: máy chủ chính (nhanh nhất) là Google Public DNS-2, máy chủ thứ hai (gần nhất) là FPT, … Khai địa chỉ IP các máy đó vào cấu hình kết nối Internet.


Cuốn xuống bên dưới màn hình trên còn khá nhiều thông tin về kết quả test. Chi tiết hơn về cách dùng xem tại đây .



11/20/09

Vài thủ thuật OpenOffice Writer


Vài thủ thuật cho OpenOffice Writer.









I- Tiêu đề (Heading)


Heading là các tiêu đề phân theo từng cấp và được đánh số tự động. Ví dụ:


Chương I: Tiêu đề cấp 1


I.1 Tiêu đề cấp 2


I.1.1 Tiêu đề cấp 3


Heading là công cụ rất tiện khi viết và đọc các văn bản dài có cấu trúc.



I.1-Tạo Heading:


Heading đã có sẵn trong danh sách các Style trên Format Toolbar:


Định đặt dòng nào làm Heading thì trước hoặc sau khi gõ xong, để con trỏ chuột ở dòng đó (không cần bôi đen cả dòng) rồi nhấn vào mũi tên trỏ xuống ở ô Style hình trên (bên trái ô Font), chọn Heading trong danh sách xổ xuống.


Heading có sẵn không đánh số ở đầu như trong ví dụ trên. Muốn đánh số tự động, nhấn vào menu Tools > Outline Numbering, màn hình sau xuất hiện:


Trong màn hình trên, chọn từng cấp Heading rồi chọn Number ở dưới. Mục Separator để chọn ký tự phân cách số và text của Heading. Trong ví dụ trên, trước số là từ “Chương”, sau số của Heading 1 là dấu hai chấm và dấu cách như hiển thị trong cột bên phải.


Số đã chọn ở trên sẽ được đánh tự động, người dùng không phải gõ. Khi xóa một heading hoặc di chuyển nó sang vị trí khác, số cũng tự động thay đổi.


Để định dạng Heading theo ý muốn, nhấn vào menu Format > Styles and Formatting. Trong màn hình tiếp, nhấn phím phải chuột vào Heading muốn định dạng lại. Màn hình sau xuất hiện:



Trong màn hình trên có thể thay đổi rất nhiều thứ theo ý muốn.



I.2-Nâng cấp, hạ cấp, di chuyển Heading


Khi con trỏ ở trong vùng một heading nào đó, toolbar sau xuất hiện:


Nhóm bốn nút có mũi tên chỉ sang trái, phải dùng để nâng hoặc hạ cấp heading (ví dụ từ heading 1 xuống heading 2). Nếu một heading định nâng/hạ cấp có các heading cấp thấp hơn ở bên dưới thì dùng nút có hai mũi tên. Khi đó, ví dụ heading 1 xuống thành heading 2 và các heading 2, 3 bên dưới nó sẽ xuống thành heading 3,4.


Nhóm bốn nút có mũi tên chỉ lên, xuống cho phép di chuyển một heading và tất cả phần văn bản bên dưới nó đến vị trí khác. Chỉ cần nhấn chuột vào heading (không cần bôi đen) rồi nhấn nút thích hợp.



I.3-Đọc, di chuyển trong văn bản theo heading:


Khi văn bản đã có heading, nhấn vào menu View > Navigator, cửa sổ sau xuất hiện:


Nhấn chuột vào mép trên cửa sổ, rê nó xuống dưới ô Style đến khi thấy xuất hiện một vạch đen thẳng đứng thì nhả chuột ra. Cửa sổ Navigator sẽ có vị trí mới ở bên trái màn hình. Nhấn vào các dấu + bên trái Heading sẽ thấy như sau:


Muốn di chuyển đến tiêu đề nào thì nhấn chuột vào nó ở cột bên trái. Bật tắt cửa sổ Navigator này bằng nút trên toolbar.



II-Tạo mục lục tự động.


Khi đã thiết lập các tiêu đề bằng Heading như trên thì có thể tạo mục lục tự động. Để con trỏ chuột vào vị trí định tạo mục lục rồi nhấn menu Insert > Index and Tables > Index and Tables. Màn hình sau xuất hiện:


Trong màn hình trên:





  • Title: gõ vào từ “Mục lục” thay cho “Table of Contents”.




  • Type: chọn Table of Contents như hình trên.




  • Protected … được đánh dấu chọn sẵn để không cho thay đổi mục lục bằng tay.




  • Evaluate up to level: mặc định mục lục được lập chi tiết đến heading 10 (nếu có).




  • Outline: đã chọn sẵn, quy định mục lục sẽ lập dựa vào heading.




  • Tab Styles: định dạng cho mục lục. Mỗi cấp mục lục (level) ứng với một style là Contents 1, 2, 3,... Muốn thay đổi Style nào nhấn vào đó rồi nhấn nút Edit ở bên dưới.




Sau khi nhấn OK, mục lục sẽ xuất hiện như thế này:





Mục lục




I- Tiêu đề (Heading) ..........................................1


I.1-Tạo Heading: ...........................................1


I.2-Nâng cấp, hạ cấp, di chuyển Heading.......... 3


I.3-Đọc, di chuyển trong văn bản theo heading: ..3


II-Tạo mục lục tự động. ......................................4


III-Bản mẫu (Template) .......................................5


IV- Bổ xung tính năng (Extensions) .......................8




Sau khi đã tạo mục lục, nếu thay đổi các heading (sửa nội dung, chuyển chỗ, xóa hoặc thêm heading, …) mục lục sẽ tự động cập nhật các thay đổi đó khi đóng rồi mở lại file văn bản. Cũng có thể cập nhật mục lục bằng cách nhấn phím phải chuột vào vùng mục lục rồi chọn Update Index/Table.



III-Bản mẫu (Template)


Để soạn một văn bản:





  • Nhanh




  • Thống nhất như nhau cho cùng một loại văn bản




nên dùng các template. Ví dụ tạo một template thông dụng như sau:


Trong màn hình Writer, mở một văn bản mới chưa có tên. Nhấn vào menu Format > Page, rồi chuyển đến tab Page trong màn hình sau:






  • Format: chọn khổ giấy là A4




  • Margins: chọn kích thước các lề giấy theo nhu cầu.




  • Chuyển sang các tab khác (Background, Header, …) để thiết lập nếu cần. Làm xong nhấn OK đóng màn hình lại.




Nhấn tiếp vào menu Format > Styles and Formatting. Trong màn hình Styles, nhấn phím phải chuột vào Default, chọn Modify rồi quy định kiểu font, cỡ font, màu font, khoảng cách dòng, ... mặc định (ví dụ Times New Roman, cỡ 14,..). Các thiết lập ở đây sẽ áp dụng cho những đoạn văn bản bình thường.


Nhấn tiếp phím phải chuột vào các style khác như Heading 1, … rồi thiết lập các mục tương tự như trên theo ý người dùng.


Nhấn tiếp vào menu Tools > Outline Numbering rồi quy định kiểu đánh số các heading như đã nói ở phần trên.


Nhấn vào mũi tên bên phải ô Zoom ( ), chọn Optimal để quy định tỷ lệ phóng to văn bản trên màn hình.


Nhấn vào menu File > Printer Settings để thiết lập các thông số in ấn.


Nhấn chuột vào phần Footer ở cuối trang. Chèn vào đó các mã sau:





  • Gõ từ “Page” (hoặc Trang) rồi nhấn menu Insert > Fields > Page Number để chèn số thứ tự của trang. Gõ tiếp từ “of” (hoặc “của” hay “/”) rồi nhấn Insert > Fields > Page Count để chèn tổng số trang của văn bản.




  • Chuyển con trỏ sang bên trái cụm từ trên, nhấn Insert > Fields > Other. Trong màn hình xuất hiện, ở cột Type chọn File name, cột Format chọn Path/File name để chèn tên file kèm đường dẫn.




Cuối cùng nhấn vào menu File > Save as. Trong màn hình xuất hiện, đặt tên file, ví dụ “Bản mẫu văn bản”, mục File type chọn “ODF Text Document template (.ott)” rồi lưu file Bản mẫu văn bản.ott vào một thư mục nào đó.


Nhấn vào menu File > Template > Organize, màn hình sau xuất hiện:



Nhấn chuột vào My Templates ở cột bên trái, nhấn tiếp vào nút Commands > Import Templates rồi tìm mở file “Bản mẫu văn bản.ott” vừa tạo. Tên file sẽ xuất hiện ở cột trái như hình trên.


Nhấn chuột vào tên file “Bản mẫu văn bản.ott” ở cột trái, nhấn tiếp vào nút Commands > Set as Default Template để quy định bản mẫu đó là mặc định cho các văn bản mới sau này.


Template đã nhập được lưu vào /home/<username>/.ooo3/user/template.


Đóng Writer lại rồi mở ra, văn bản mới Untitled 1 (chưa có tên) sẽ mặc nhiên có tất cả những settings đã thiết lập ở trên cho template, không phải làm lại cho các lần sau.


Ví dụ, sau khi đã lưu file, phần Footer sẽ có dạng như sau:



Writer có rất nhiều template cho đủ loại văn bản, tải tự do từ Internet về dùng và sửa theo ý muốn. Ví dụ xem tại đây.



IV- Bổ xung tính năng (Extensions)


Cũng như Firefox, OpenOffice là phần mềm nguồn mở cho mọi người có thể viết các đoạn chương trình nhỏ bổ xung tính năng theo ý mình (extensions). Một số extensions nên dùng đã giới thiệu ở đây và ở đây.



11/13/09

NEPOMUK - một cách tổ chức, chia sẻ dữ liệu mới.


NEPOMUK - một cách tổ chức, chia sẻ dữ liệu mới.


I. Hai vấn đề hiện tại


I.1-Tổ chức, quản lý và tìm kiếm dữ liệu cá nhân


Giả sử bạn đang thực hiện một công việc (task A) nào đó trên máy tính. Các dữ liệu liên quan đến công việc đó gồm có:





  • Các file văn bản, hình vẽ, ảnh, … được tập hợp trong một thư mục task A mở trong phần mềm Dolphin.




  • Các cá nhân có liên quan được tập hợp trong một Distribution List cũng có tên là task A trong sổ địa chỉ Contacts của phần mềm Kontact.




  • Các email trao đổi về công việc đó được tập hợp trong một thư mục task A của Inbox hoặc trong một thread có chung subject là task A của phần mềm KMail.




  • Các trang web liên quan được tập hợp trong một thư mục task A của Bookmarks của phần mềm Firefox.




  • v.v... và v.v...




Dữ liệu liên quan đến một công việc nằm rải rác trong nhiều format, nhiều ứng dụng và được tập hợp trong nhiều chỗ khác nhau.


Như vậy khó tìm kiếm, mất thì giờ và dữ liệu không có liên kết với nhau.



I.2-Tìm dữ liệu cho mình hoặc chia sẻ dữ liệu cho người khác


Những dữ liệu nói trên, ngoài tên file, subject của email hoặc địa chỉ trang web, có rất ít thông tin hiển thị ra ngoài. Ngay cả người tạo ra dữ liệu đó, nếu lâu ngày cũng không nhớ nội dung nó nói gì.


Vì vậy khi tìm kiếm mất rất nhiều thì giờ. Một trong những điển hình là khi Google Search theo các từ khóa nào đó mất nhiều công mở từng trang web trong kết quả tìm kiếm mới phát hiện được trang cần thiết.


Một trong những cách để khắc phục là có các công cụ để người tạo ra dữ liệu hoặc người đã dùng nó:





  • Ghi chú thêm thông tin (annotate - chú giải) về dữ liệu dưới dạng gán từ khóa (tag), comment hoặc note và các dạng thông tin khác nữa đi kèm với file.




  • Những thông tin thêm đó phải có nghĩa (semantic), đọc được và tìm kiếm được (queryable) bằng các công cụ tìm kiếm.




Ví dụ: một bức ảnh về Hồ Hoàn kiếm, khi chia sẻ lên mạng nếu được gán các tag “phong cảnh”, “Hà nội”, “Việt nam” v.v..., một người nước ngoài tìm ảnh theo các từ khóa trên sẽ nhận thấy ngay đây là cái mình cần trước khi mở ảnh ra xem. Nếu có người đã xem, cho một comment “ảnh đẹp” thì lại càng đáng mở ảnh. Rõ ràng như vậy tiện hơn nhiều khi chỉ có mỗi tên file “Hoan Kiem lake.jpg”.


Văn bản giấy khi xếp trong các cặp hồ sơ là tổ chức giống kiểu thư mục máy tính. Nhưng phần trích yếu V/v và các mẩu giấy notepad dán vào chính là một dạng ghi chú thêm như trên, có điều công cụ tìm kiếm là bằng mắt.


Việc ghi chú như trên tạo thuận lợi cho chính người lập ra dữ liệu và người được chia sẻ nhưng đòi hỏi phải thay đổi thói quen, mất thêm thì giờ khi lưu dữ liệu. Bản thân tôi khi viết blog cũng rất ngại phần tag.



II. Dự án NEPOMUK.


Một trong những tính năng mới được giới thiệu trong Mandriva 2010.0 là Smart Desktop mà theo lời hãng giới thiệu một cách ngắn gọn thì:


“ Máy tính của bạn sẽ thông minh hơn, hỗ trợ bạn trong công việc hàng ngày. Bạn có nhiều tài liệu, thư từ, dữ liệu, ảnh, video. Giờ bạn có thể tổ chức chúng theo các dự án (task) . Có thể ghi chú, bình luận, gán từ khóa chỉ bằng vài lần kích chuột.


Nhờ thế, dữ liệu sẽ luôn tìm được dễ hơn nhiều khi bạn cần đến chúng”


Smart Desktop xây dựng trên nền tảng của NEPOMUK tên viết tắt của “ Networked Environment for Personalized, Ontology-based Management of Unified Knowledge” tạm dịch là “ Môi trường kết nối mạng quản lý kiến thức thống nhất trên cơ sở bản thể luận cá biệt hóa”. Nghe hơi triết và ù tai!


NEPOMUK là một dự án phần mềm nguồn mở hiện thời trị giá $17 triệu, trong đó Liên minh châu Âu (EU) tài trợ $11,5 triệu. Như thế cũng đủ biết nó là một dự án lớn và quan trọng.



Hình 1: Logo của NEPOMUK


Mục tiêu của dự án là NEPOMUK xây dựng và triển khai một giải pháp toàn diện (gồm các phương pháp, các cấu trúc dữ liệu và một bộ công cụ) để hòa nhập máy tính cá nhân vào môi trường cộng tác, cải tiến việc cộng tác qua mạng, cải tiến việc quản lý dữ liệu cá nhân và tăng cường hiểu biết của con người bằng cách cung cấp và tổ chức thông tin do cá nhân và tập thể tạo ra.


Đại khái thì Nepomuk giúp cho việc quản lý và tìm kiếm dữ liệu cá nhân dễ hơn, đầy đủ hơn (khác cách quản lý theo file hiện thời) và dễ chia sẻ hơn qua mạng .


Giải pháp toàn diện nói ở trên được gọi là Social Semantic Desktop , khó mà dịch ra tiếng Việt một cách ngắn gọn dễ hiểu được. Nó gồm:



Về máy tính:


Mục tiêu của NEPOMUK là xây dựng các phương pháp, cấu trúc dữ liệu và các dịch vụ cần thiết để:





  • Ghi chú vào và link các thông tin bất kỳ, ở mọi loại file, trong mọi ứng dụng và trên mọi thiết bị lưu trữ trên máy tính




  • Biểu diễn rõ ràng và trực quan các suy nghĩ của người dùng và biến chúng thành thông tin có nghĩa. Sẽ dùng công nghệ wiki và tích hợp nó với cơ chế ghi chú.




  • Tích hợp việc tạo và xử lý nội dung với cách người dùng tổ chức công việc. Quan điểm chính là tích hợp phương pháp mô hình xử lý agile với việc tạo và tổ chức thông tin.




Ví dụ: một file ảnh thông thường chỉ có một thông tin có nghĩa và tìm kiếm được là tên file nhưng cũng rất không đầy đủ. Nepomuk sẽ cho phép người dùng bổ xung thêm (annotate) thông tin có nghĩa (semantic) và tìm kiếm được (queryable) vào ảnh đó.



Về mặt xã hội (social aspect)


Để đáp ứng việc kết nối và trao đổi với các máy tính khác, NEPOMUK sẽ xây dựng:





  • Các công cụ để xây dựng các quan hệ xã hội và trao đổi kiến thức hỗ trợ việc chia sẻ kiến thức trong một cộng đồng. Người dùng không chỉ trao đổi hồ sơ và các mẩu thông tin cô lập mà còn tất cả các thông tin liên hệ và sự đóng góp của cộng đồng vào đó.




  • Các kỹ thuật để tìm kiếm và lưu trữ thông tin nằm rải rác trên mạng, tập hợp thành kho lưu trữ thông tin chung cho cộng đồng.




Dự án này tương đối mới và còn đang trong giai đoạn phát triển. Mới có một phần các mục tiêu trên thực hiện được. Hiện nay, nó đã triển khai được bước đầu (tổ chức lại thông tin) trong KDE4 và trên Java.


GNOME cũng đang có một dự án kiểu này, dự kiến sẽ ra mắt trong GNOME3, trong đó có sự đóng góp ý tưởng của một bạn người Việt (Le Hoang Nhi), xem thêm ở đây .





III.Smart Desktop trong Mandriva 2010.0 KDE.


Mandriva 2010.0 KDE đã tích hợp NEPOMUK như một tính năng mới.

III.1-Cài đặt:


Mở Install & Remove Software, cài thêm soprano-plugin-redland, soprano-plugin-sesam2, gõ từ “ nepomuk” rồi chọn cài tất cả những gói chưa cài trong đó, trừ ba gói nepomuk-scribo-devel, libepomuk-contact4, libepomukpeopletag0 (hai gói sau bị lỗi không cài được nên phần contact chưa dùng được ở các mục dưới đây).

Mở Configure Your Desktop > Advanced > Desktop Search > Basic Settings rồi đánh dấu chọn hai mục Enable Nepomuk Semantic Desktop và Enable Strigi Desktop File Indexer.


Chuyển sang tab Advanced Settings rồi thay đổi thư mục cần tìm kiếm (nếu cần). Mặc định là thư mục /home/<username> . Thư mục quy định ở đây là thư mục chứa dữ liệu hay tìm kiếm nhất (ví dụ My Documents) để trình tìm kiếm Strigi lập chỉ mục (index) trước, khi tìm sẽ nhanh.


Làm xong các bước trên, nhấn nút Apply, biểu tượng của Nepomuk sẽ xuất hiện trên panel và việc lập chỉ mục bắt đầu. Tùy theo dung lượng thư mục, thời gian lập chỉ mục có thể mất vài tiếng và máy sẽ hơi chậm.


Khi đã lập chỉ mục xong, mỗi lần có file mới hoặc file bị thay đổi, chỉ mục sẽ tự động cập nhật.



III.2-Siêu dữ liệu (metadata)


Mỗi dữ liệu (data: một file, một email, một trang web, v.v...) đều có thể có ba loại siêu dữ liệu (metadata) sau:





  • Metadata có sẵn đi kèm với file lưu trên ổ cứng: các thuộc tính (properties: tên file, đường dẫn, dung lượng, ...), các từ khóa tag gán cho file audio, các mốc thời gian khởi tạo, truy cập và sửa, các đoạn text chỉ mục (index), … Các công cụ tìm kiếm như Beagle, Strigi có thể tách các metadata đó và lập chỉ mục được để tìm kiếm cho nhanh.




  • Metadata do người dùng tạo ra gán cho dữ liệu: comment hoặc note vào file hoặc email, gán từ khóa (tag), chấm điểm (Numeric rating) file.




  • Metadata không thuộc hai loại trên, ví dụ: đường link gốc của một file tải về từ Internet, kết nối của một file đính kèm theo email. Một khi những file trên đã lưu trên ổ cứng thì các kết nối trên bị mất, không thể biết file được tải về từ đâu hoặc nằm trong email nào.




NEPOMUK cung cấp các công cụ để tạo, quản lý, tìm kiếm các loại metadata đó.


Hiện nay một số chương trình cũng có công cụ để người dùng ghi chú (tag, note, comment) vào dữ liệu. Nhưng những ghi chú đó chỉ đọc và tìm kiếm được trong nội bộ một chương trình đó. Các ghi chú của Nepomuk có giá trị liên chương trình (cross-applications), có thể đọc và tìm kiếm được trên mọi phần mềm có tích hợp Nepomuk.



III.3-Tổ chức thông tin theo công việc (task):


Nhấn phím phải chuột vào Panel, chọn Panel Settings rồi chọn tiếp Add Widgets. Trong danh sách các widgets, chọn Task Management Widget rồi nhấn nút Add, các icon sau xuất hiện trên panel:



Nhấn vào icon bên trái để chạy chương trình Tasktop. Đây là bước đầu cho một cách tổ chức dữ liệu mới. Tasktop cho phép tập hợp tất cả các dữ liệu có liên quan với một Task về một mối.



Nhấn vào New Task để tạo Task. Sau đó nhấn vào các nút dấu cộng để gán các dữ liệu liên quan vào Task. Tuy nhiên, hiện chỉ có mỗi phần Files hoạt động được. Contact thì không do không cài được hai file đã nói ở trên. Email và Web Pages phải gán từ KMail và Konqueror (xem bên dưới).


Một Task có thể gồm nhiều Task con bên dưới.


Còn một cách tổ chức dữ liệu nữa là dựa trên Tag. Mọi dữ liệu được gán chung một Tag, khi dùng Nepomuk Search sẽ tập hợp chung lại một chỗ.



III.4-Tích hợp với trình duyệt file Dolphin:


III.4.1-Ghi chú thêm vào file:



Trong Dolphin, người dùng có thể thêm “ý kiến” của mình đối với mỗi file bằng ba loại metadata (xem hình bên, cột Infomation ở bên phải màn hình Dolphin):





  • Chấm điểm file (Numeric rating): nhấn vào các hình sao ở cột bên phải. Mỗi sao là 2 điểm. Kết quả hiện ở bên dưới, ví dụ ảnh trong hình có Numeric rating=9. Loại metadata này để người dùng đánh giá nội dung file.




  • Ghi chú (comments): file chưa có ghi chú thì bên dưới dãy sao có Add comment. Nhấn vào đó để thêm ghi chú tùy ý. Sau đó, nội dung ghi chú hiện lên bên dưới dãy sao như hình trên.




  • Gán từ khóa (tag) cho file: từ khóa ở đây là các từ khóa có liên quan đến file. Trong ví dụ trên, file được gán từ khóa “Ảnh màn hình” và “compiz”. Có thể nhấn vào Change Tags để thêm nhiều từ khóa nữa hoặc xóa bớt.




Khi nhấn chuột phải vào một file, chọn tiếp Actions trong menu con, sẽ có ba mục mới trong menu kế tiếp:






  • Associate to task:
    gán file vào một công việc. Chi tiết xem bên dưới.




  • Annotate: Ghi chú vào file. Đây là lệnh cao cấp có rất nhiều kiểu trường ghi chú ngoài comment và tag nói trên.




  • Run semantic analysis: tìm các thông tin có nghĩa bên ngoài nội dung file.




III.4.2-Tập hợp dữ liệu theo tag:



Nhấn Ctrl+L để chuyển thanh địa chỉ của Dolphin sang dạng edit được. Gõ vào đó lệnh tìm kiếm như trên hình. Kết quả bên dưới là hai file có tag compiz.



III.5-Tích hợp với Kontacts


Mỗi email trong KMail có thể gán tag, comment và liên kết với một task được. Mỗi địa chỉ trong Contacts cũng vậy (nhưng hiện chưa làm được vì các file tương ứng bị lỗi chưa cài được như nói ở trên).



III.6-Tích hợp với trình duyệt web Konqueror


Mỗi trang web mở trong Konqueror, khi nhấn chuột phải sẽ xuất hiện các menu sau:



Theo menu trên, với mỗi trang web có thể (cũng tương tự như với file):





  • Rate this page: chấm điểm (numeric rating) như với file đã nói ở trên.




  • Tag this page: gán từ khóa vào trang.




  • Associate to task: liên kết trang vào một công việc.




Ngay trên toolbar cũng có hai nút lệnh liên quan đến Nepomuk.


Trình duyệt Firefox và trình thư điện tử Thunderbird cũng có một extension là nepomuk-mozilla nhưng hiện chưa tương thích với Firefox 3.5



III.7-Tìm kiếm bằng Nepomuk + Strigi


Strigi là trình tìm kiếm mặc định trong KDE4 được tích hợp vào trình duyệt file Dolphin (không có lệnh chạy riêng). Hiện tại, strigi được tích hợp với Nepomuk, lập chỉ mục và tìm kiếm được trên:





  • Tên file và trong nội dung file (ODF hoặc Microsoft Office). Tìm được cả các từ tiếng Việt unicode bên trong file.




  • Các comment hoặc tag của file. Tìm được các từ tiếng Việt trong comment nhưng không tìm được các tag tiếng Việt.




  • Không tìm được trong Kmail.




  • Ví dụ một lệnh tìm trong nội dung file (xem hình dưới).





Gõ từ “thú chơi” vào ô Search ở bên phải toolbar như trong hình. Kết quả tìm được file “Cac dai cong ty va phan mem nguon mo.doc”.


Còn một phần mềm tìm kiếm nữa là KFind (trong Dolphin: Tools > Find Files). KFind có nhiều options tìm hơn Strigi (tìm theo ngày tháng, dung lượng file v.v..) và tìm được từ tiếng Việt bên trong các file ODF, nhưng không tìm được trong các file Microsoft Office. KFind không có liên hệ gì với Nepomuk.



III.8-Nepomuk Shell



Nepomuk Shell là một chương trình tổng hợp quản lý mọi thứ có trong Nepomuk. Chạy nó từ Run Command với lệnh nepomukshell.



IV. Kết luận


Nepomuk là một dự án lớn, đầy tham vọng hiện mới thực hiện được một phần. Mandriva có lẽ là bản Linux đầu tiên tích hợp nó vào ở mức độ đáng kể như trình bày ở trên (Các bản Linux KDE khác chắc cũng có thể cài bổ xung Nepomuk nếu chưa có). Tuy nhiên vì là bước đầu nên các tiện ích còn chưa hoàn thiện, giao diện chưa thân thiện, dễ dùng, nhiều khái niệm khá mới và phức tạp với người dùng bình thường.


Nhưng triển vọng thì rất sáng sủa. Chúng ta cùng chờ xem.



10/6/09

Cơ sở dữ liệu nguồn mở trong thực tế.

EnterpriseDB says open source database saves big bucks


zxc232 lược dịch


(Tôi giới thiệu bài này để thấy trong thực tế cơ sở dữ liệu nguồn mở đã và đang được ứng dụng trong kinh doanh. Các thông tin về tính năng trong bài là lời quảng cáo của hãng bán sản phẩm, bạn đọc tự đánh giá - ND)

Nhờ chuyển từ cơ sở dữ liệu nguồn đóng sang cơ sở dữ liệu nguồn mở, các công ty bán hoa online FTD và công ty Sony Online Entertainment đã tiết kiệm được một số tiền lớn mà vẫn đáp ứng được nhu cầu kinh doanh.

Trong hội nghị Red Hat Summit, Tổng giám đốc của công ty cơ sở dữ liệu nguồn mở EnterpriseDB, Ed Boyajian, đã nhắc đến hai công ty nói trên như ví dụ chuyển đổi thành công từ phần mềm cơ sở dữ liệu Oracle sang phần mềm cơ sở dữ liệu Postgres của EnterpriseDB (các khách hàng khác xem ở đây). Postgres dựa trên PostgreSQL, một trong hai phần mềm cơ sở dữ liệu nguồn mở nổi tiếng nhất hiện nay. EnterpriseDB đã giúp hai khách hàng trên xây dựng hạ tấng IT với chi phí rất thấp.

Boyajian cho rằng "Cơ sở dữ liệu là lĩnh vực chuyển sang phần mềm nguồn mở rất hấp dẫn và có thể là công nghệ nguồn mở đột phá nhất trong 5 năm tới. Công nghệ Thông tin đang đối mặt với thách thức: nhu cầu xử lý càng ngày càng tăng nhưng ngân sách dành cho IT lại không tăng hoặc giảm. Đó là một vấn đề kinh tế cơ bản nhưng cũng là một động lực lớn cho việc đổi mới trong thời kỳ suy thoái kinh tế. Ngược lại, cơ sở dữ liệu Oracle đang là một "con bò vắt tiền" của khách hàng, trói chặt khách hàng vì không thể tách các phần mềm ứng dụng khỏi cơ sở dữ liệu."

Cơ hội của cơ sở dữ liệu nguồn mở.

Vẫn theo Boyajian, mặc dù MySQL vẫn là cơ sở dữ liệu nguồn mở phổ biến nhất, Postgres của EnterpriseDB mạnh hơn và nhanh hơn. Ví dụ hãng FTD đã dùng Postgres Plus để tạo một cơ sở dữ liệu riêng, tách khỏi Oracle và tiết kiệm được hàng trăm nghìn đôla, tốc độ tăng 400%, thời gian chuyển đổi mất sáu tuần.

Sony Online Entertainment, một khách hàng cũ của Oracle, đã tung ra trò chơi Free Realms chạy trên cơ sở dữ liệu Postgres Plus. Sau khi đã tiết kiệm được 80% chi phí cơ sở dữ liệu cho trò chơi mới, hãng quyết định từ nay sẽ dùng Postgres Plus cho các trò chơi trong tương lai.

Ngoài ra, một hãng viễn thông hàng đầu đang chuyển vài trăm hệ phần mềm từ Oracle sang Postgres, bắt đầu từ hệ quản lý nhân sự và bán hàng, tiếp theo là thanh toán và quản lý thiết bị trong hai ba năm tới. Hãng dự kiến sẽ tiết kiệm được 90 triệu đôla.

Các ví dụ nói trên đã gây ấn tượng cho Craig Bogovich, nhà kiến trúc hệ thống của công ty Pilgrim Health Care. Bogovich cho biết công ty bảo hiểm y tế của ông "đang tích cực tìm kiếm các giải pháp phần mềm nguồn mở để tiết kiệm chi phí" và có lẽ sẽ xem xét EnterpriseDB. "Chúng tôi đang rất hài lòng với hệ điều hành Linux Red Hat chạy trên các máy chủ thương mại và đã tích cực từ bỏ các máy chủ HP_UX với bộ xử lý RISC từ năm 2004. Thách thức lớn nhất của chúng tôi là chọn các ứng dụng của bên thứ ba. Chúng tôi yêu cầu dứt khoát là các ứng dụng đó phải được xác nhận là chạy tốt trên cơ sở dữ liệu được chọn. "

Boyajian nêu ra các con số để chứng minh số tiền tiết kiệm thực tế khi dùng PostgreSQL so với các phần mềm cơ sở dữ liệu nguồn đóng. Bản PostgreSQL Enterprise miễn phí, trong khi phần mềm cơ sở dữ liệu DB2 của IBM chi phí ban đầu là 582.400 USD cho giấy phép sử dụng 3 năm trên 8 máy chủ, còn cơ sở dữ liệu Oracle thì mất 760.000 USD. Chi phí bảo trì hàng năm của 8 máy chủ đó là 215.760 USD đối với EnterpriseDB, 349.440 USD đối với IBM và 501.600 đối với Oracle.

(Các hệ thống lớn trước đây thường dùng các máy chủ đặc chủng đắt tiền chạy hệ điều hành Unix. Các hệ điều hành Linux có thể chạy trên các máy chủ thương mại phổ thông - commodity server - với chi phí rẻ hơn nhiều mà vẫn đáp ứng được yêu cầu. Một hãng bảo hiểm y tế mà dùng tới máy chủ hàng khủng như HP_UX, 128 processor cores là một điều mới mẻ ở Việt nam, chứng tỏ nhu cầu IT thực sự phải như thế nào - ND)

"Mỗi công ty công nghệ lớn đều có những cái riêng làm cho khó mà tách ra khỏi họ" Boyajian nói " Cái riêng của phần mềm nguồn mở là cho bạn sự tự do, trao lại quyền kiểm soát cho khách hàng"

Lấp khoảng cách về tính năng
Nhưng sự tự do cũng đi kèm với những thỏa hiệp về tính năng mà các cơ sở dữ liệu nguồn mở còn chưa vượt qua được. Craig Mullins, phó chủ tịch chiến lược dữ liệu của Neon Enterprise Software nói rằng các công ty cơ sở dữ liệu nguồn mở như EnterpriseDB đã lấp được các khoảng cách về các chức năng của cơ sở dữ liệu (database functionality) so với các phần mềm nguồn đóng nhưng còn thua về các công cụ quản trị, thay đổi cơ sở dữ liệu, công cụ sao lưu và khôi phục, những công cụ mà các hãng lớn phải mất nhiều năm mới xây dựng được.

EnterpriseDB đã làm được một việc rất hay là làm cho PostgreSQL có thể chạy các ứng dụng Oracle, do đó đơn giản hóa được quá trình phát triển và bảo trì phần mềm ứng dụng, nhưng việc thiếu các công cụ có thểlàm cơ sở dữ liệu và ứng dụng khó đáp ứng các yêu cầu về tính năng trong các hợp đồng dịch vụ, Mullins cho biết.

Boyajian cho rằng việc phát triển phần mềm nguồn mở PostgreSQL đã hơn 20 năm trong trường đại học Berkeley, có đội ngũ các nhà phát triển tích cực nên bảo đảm chất lượng tốt hơn là các phần mềm nguồn đóng . Do bản chất phát triển cộng đồng, Postgres hiện thiếu sự thúc đẩy thương mại  mà EnterpriseDB đang cố gắng làm điều đó. EnterpriseDB là một liên doanh giữa IBM và Sony mới thành lập được 5 năm, có được hàng trăm khách hàng và doanh số tăng gấp đôi hàng năm nhưng vẫn chưa có lãi.

9/29/09

Chăm sóc ổ cứng trong Linux

1- Xem thông tin ổ cứng:
Dùng quyền root chạy lệnh lshw trong terminal cho thông tin đầy đủ nhất: trong máy có bao nhiêu ổ, thông số từng cái, mỗi ổ có bao nhiêu patition (trong lệnh này, các partition được gọi là volume), ... Tuy nhiên, giao diện dòng lệnh hơi khó xem.
Trong Mandriva Control Center có phần Hardware, nhưng thông tin về ổ cứng không chi tiết đến mức từng partition như lệnh lshw. Phải vào mục Local disk mới có thông tin chi tiết về các partition dưới dạng đồ họa, trực quan.
Trong Ubuntu có thể cài gparted ( chạy từ Administration → Partition Manager) để xem thông tin về các partition.(và làm các việc khác nữa xem phần dưới)

Ký hiệu hay dùng nhất của các partition thường là /dev/sda1, /dev/sda2, …. Nếu có một ổ cứng thứ hai thì các partition trên đó là /dev/sdb1, ….
2- Tạo mới, xóa, sửa dung lượng, di chuyển, format các partition:
Trong Mandriva có sẵn công cụ để làm các việc trên (Mandriva Control Center -> Local disk). Tuy nhiên, công cụ đầy đủ và mạnh nhất để làm các việc trên là gparted (cài được cả trong GNOME và KDE). Có những việc (format, move partition, …) Mandriva Control Center không làm được nhưng gparted làm được. Linux Mint có cài sẵn gparted, Ubuntu hình như là không, phải tự cài.
Trong Linux cũng có các lệnh fdisk và sfdisk như của DOS nhưng không thật thành thạo thì không nên dùng.
3- Mount và umount các partition:
Mandriva Control Center -> Local disk cho phép xem các partion đã mount vào thư mục nào, thay đổi thư mục mount, mount tạm thời để xem nội dung (không ghi vào file fstab), mount tự động khi khởi động máy tính (ghi thành lệnh vào file /etc/fstab). Tóm lại là đầy đủ cho việc mount, umount các partition.
Ubuntu không có công cụ tương tự. Gparted có thể umount nhưng không mount được. Tuy nhiên có thể cài phần mềm pysdm (có trong kho phần mềm) để quản lý việc mount và umount (ghi được vào file fstab) tuy không trực quan bằng Mandriva. Sau khi cài, phần mềm này xuất hiện trong nhóm menu Administration với tên là Storage Device Manager.
CHÚ Ý: các partition Windows (ntfs, fat?) khi chạy trong Windows không shutdown mềm (mất điện bất thình lình, tắt máy cưỡng bức bằng cách giữ nút Power) sẽ bị đánh dấu là “dirty”, Linux sẽ không mount các partition dirty đó. Vì vậy:

  • Nếu chạy chung Windows và Linux trên một máy, khi thấy hiện tượng Linux không mount được các partition Windows thì phải khởi động lại Windows, rồi shutdown mềm (bằng lệnh shutdown trong menu). Sau đó khởi động vào Linux mới mount được.

  • Nếu dùng ổ cứng ngoài format NTFS nối vào Windows cũng phải shutdown mềm rồi mới tháo ổ. Nếu không, cắm ổ đó sang Linux sẽ không mount được.


4- Kiểm tra và theo dõi sức khỏe ổ bằng SMART.
Công nghệ S.M.A.R.T (Self-Monitoring, Analysis, and Reporting Technology - tự theo dõi, phân tích và báo cáo) là công nghệ theo dõi khoảng vài chục chỉ số để dự đoán trước các hư hỏng vật lý có thể có của ổ cứng. Các ổ cứng hiện nay đều hỗ trợ công nghệ này và để sử dụng trước hết nó phải được kích hoạt từ BIOS Setup.
Phần mềm Linux hỗ trợ công nghệ này là GsmartControl cài từ kho phần mềm hoặc tải về từ đây. Trước đó cần cài các gói phần mềm smartmontools có trong kho phần mềm. Vì smartmontools gửi các cảnh báo đi bằng email nên khi cài, nó yêu cầu cài thêm một số phần mềm gửi email như mailx, postfix (chỉ một cũng đủ không hiểu sao lại yêu cầu cài cả ba).

smartcontrol


GsmartControl cho phép kích hoạt SMART, test ổ cứng theo hai chế độ: Short self-test và Extended self-test, đưa ra báo cáo chi tiết.
Muốn chạy trình thường trú (daemon) để theo dõi ổ xem ở đây.

5- Kiểm tra, sửa lỗi “phần mềm” của ổ cứng.

SMART nói ở trên theo dõi các lỗi vật lý của ổ cứng. Các lỗi thuộc về phần mềm (boot sector, master boot record, bảng partition, …) dùng các công cụ khác để kiểm tra và khắc phục.
Kiểm tra tính tương thích của hệ thống file:
Trong Windows có các lệnh scandisk và chkdsk để kiểm tra lỗi không tương thích của hệ thống file trên ổ cứng. Lệnh tương tự trong Linux là fsck (file system check).
fsck được đặt lịch tự động chạy kiểm tra các partition sau 25-30 lần mount (thường là bằng với số lần khởi động máy tính). Vì vậy thỉnh thoảng ta thấy Linux khởi động lâu hơn thường lệ là do fsck đang làm việc.
Khi Linux khởi động, nếu nó nghi ngờ partition nào có vấn đề, fsck cũng được tự động chạy để kiểm tra.
Người dùng có thể chạy fsck để kiểm tra như sau:

  • Khởi động máy tính bằng một đĩa cài Linux có chế độ Live CD (bản Linux nào cũng được, không nhất thiết phải cùng với bản đang cài trên ổ cứng).

  • Trong chế độ chạy Linux Live CD, mở terminal rồi chạy lệnh
    fsck -y -p -c /dev/sda3
    trong đó /dev/sda3 là partition cần kiểm tra (hoặc sda2, sda5, … tùy theo tình hình cụ thể của ổ cứng), -y là đồng ý với mọi câu hỏi mà lệnh có thể hỏi, -p: tự động sửa lỗi, -c: kiểm tra và đánh dấu các bad blocks. Còn nhiều option khác, gõ lệnh man fsck để xem.


Cập nhật: cũng có thể kiểm tra bằng trình gparted. Mở gparted, nhấn phím phải chuột vào partition cần kiểm tra (nếu partition đang mount thì umount trước) rồi chọn Check. Nếu cần kiểm tra partition cài Linux (đã mount vào /) thì boot máy bằng đĩa Linux có gparted, chạy gparted rồi kiểm tra.

Chú ý: không được kiểm tra các partition đang mount, hỏng dữ liệu.

Kiểm tra, sửa chữa các thứ khác:

  • Chữa bảng partitions bị hỏng, khôi phục các partitions bị mất.

  • Khôi phục lại boot sector của FAT32/NTFS từ bản backup.

  • Tạo lại (rebuild) boot sector FAT12/FAT16/FAT32/NTFS.

  • Chữa bảng FAT bị hỏng.

  • Chữa Master File Table (MFT) từ bản mirror.

  • Tìm các SuperBlock backup của ext2/ext3.

  • Khôi phục các file bị xoá ở các partitions FAT, NTFS và ext2.

  • Copy file từ các partitions FAT, NTFS, ext2/ext3 đã bị xoá.


dùng công cụ teskdisk như đã giới thiệu ở đây.

Undelete file đã xóa trong ext3

Có người thì khẳng định là hệ thống file ext3 không undelete được, người thì lại nói được.

Có một dự án đang xây dựng một công cụ undelete cho hệ thống file ext3 là ext3grep nhưng cách làm khá phức tạp, xem chi tiết tại đây.

Một công cụ khác (R-Linux) để undelete các file ext2/ext3/ext4 nhưng chạy trên Windows xem tại đây.  là một phần mềm khác chạy trên Windows cũng khôi phục được các file ext2/ext3/ext4 bị xóa.

Các công cụ này tôi cũng chưa dùng bao giờ.

Khôi phục boot menu bị mất (ví dụ sau khi cài lại Windows) theo cách đã nêu ở đây.

9/28/09

Tự động đổi ảnh nền màn hình trong GNOME

Trong KDE đã có sẵn các chế độ ảnh nền màn hình (wallpaper): a/ Ảnh tĩnh (chỉ chọn một ảnh cố định), b/Ảnh động dưới dạng slideshow (tự động thay ảnh trong các thư mục chọn trước sau một khoảng thời gian nào đó). Nhấn phím phải chuột vào desktop, chọn Desktop Settings để đặt các chế độ trên. KDE 4.2 trở xuống có thời gian tối thiểu thay ảnh là 1 phút, KDE 4.3 cho phép chọn nhỏ hơn đến mức giây.

Trong GNOME, mặc định chỉ có chế độ ảnh tĩnh: nhấn phím phải chuột vào desktop, chọn Change Desktop Background rồi chọn ảnh. Tuy nhiên có thể cài thêm một trong hai phần mềm sau (có sẵn trong kho phần mềm) để chạy ảnh theo chế độ slideshow:

  • Drapes: sau khi cài, chạy từ dòng lệnh hoặc menu, một icon hình màn hình sẽ xuất hiện trên System Tray của panel. Nhấn phim phải chuột vào đó, rồi nhấn Preferences để đặt các settings: cho tự khởi động cùng máy tính, chọn khoảng thời gian thay ảnh (min là 5 phút), chọn thư mục có ảnh. Nhược điểm là thông số min=5 phút nói trên, hơi lâu. Nếu muốn chủ động đổi ảnh thì nhấn chuột vào biểu tượng nói trên.

  • Wallpaper-tray: sau khi cài, nhấn phím phải chuột vào panel, chọn add to panel rồi tìm wallpaper tray trong danh sách để add, biểu tượng sẽ xuất hiện trên panel. Công cụ này cho phép add các folder chứa ảnh nền tiện hơn cái trên và thời gian chuyển ảnh ngắn hơn (min=1phút, thậm chí có thể đặt min=0,5 phút chẳng hạn). Nhược điểm là sau khi đặt các settings rồi, nhiều khi không thể gọi lại màn hình để sửa và cũng không biết file cấu hình nằm đâu. Tôi chót đặt min=0,1 phút, ảnh thay rất nhanh nhưng tốn CPU mà không tim được cách nào để chỉnh lại.

9/11/09

Yahoo Messenger for Linux và các kiểu chat khác (udapted 12/9/09)

Yahoo Messenger có khá đông người dùng và phổ biến ở Việt nam. Khởi đầu chỉ có text chat, nay Yahoo Messenger đã có cả video\voice chat, tương tự như Skype.
Trên Linux có bản Yahoo Messenger for Linux 1.0.4 từ năm 2005 khá cũ và hình như đã ngừng phát triển. Tuy nhiên để dùng Yahoo Messenger trên Linux có nhiều cách.
Gyachi
Gyachi là bản Yahoo Messenger for Linux do cộng đồng nguồn mở phát triển. Nhánh hiện nay phát triển nhất của Gyachi là GYachE Improved (tên gói phần mềm vẫn là gyachi), phiên bản mới nhất là 1.2.2 ra ngày 22/7/2009.
Trong kho phần mềm của Linux Mint, phiên bản mới nhất là gyachi 1.2.1.. Trong kho của Ubuntu 9.04 không có phần mềm này. Bản cài đặt gyachi 1.2.2 tải về tại đây (cũng dùng cho Linux Mint). Mandriva có bản cũ hơn là 1.1.59.
Sau khi cài, tên phần mềm GYachE Improved xuất hiện trong menu ở mục Internet. Màn hình như sau:


GyachiTính năng khá đầy đủ, Options phong phú như trong hình. Hỗ trợ cả video/voice chat. Nhược điểm là giao diện không đẹp.

Kopete và Pidgin
Kopete và Pidgin là hai phần mềm instant messenger phổ biến trên Linux. Kopete viết cho KDE, Pidgin cho GNOME nhưng cài sang môi trường khác vẫn dùng được. Ngoài Yahoo Messenger, hai phần mềm này còn dùng chat được trên khoảng một tá dịch vụ khác (MSN, Google Talk, ICQ, IRC, v.v...).
Pidgin hiện tại chỉ hỗ trợ text chat, không có video/voice chat.
Kopete có video/voice chat, màn hình đẹp nhưng hiện tại bản Kopete 0.70.90 for KDE 4.3.1 cũng gặp lỗi không nhận biết được các nick Yahoo khác đang online, do đó không chat được. Theo các thông tin trên mạng, gần đây Yahoo có thay đổi gì đó trong protocol đăng nhập mà Kopete chưa kịp sửa.

CẬP NHẬT (12/9/09): Sửa lỗi nói trên của Kopete: máy chủ mặc định scs.msg.yahoo.com có lỗi kết nối. Sửa như sau: vào Settings > Configure > Accounts , nhấn chọn account Yahoo rồi nhấn nút Modify. Trong màn hình con, chọn tab Account Preferences, đánh dấu chọn mục Override default server information rồi khai lại địa chỉ máy chủ là một trong ba địa chỉ sau:

(1) cs101.msg.mud.yahoo.com
(2) cs102.msg.mud.yahoo.com
(3) cn.scs.msg.yahoo.com

Tôi dùng địa chỉ thứ ba thì kết nối tốt, các Friends đều nhận được.

9/9/09

Skype for Linux (cập nhật 29/9/09)

Skype là dịch vụ điện thoại Internet miễn phí phổ biến nhất hiện nay. Thường xuyên trên mạng này có khoảng 10 triệu người online
Skype có bản cài cho Linux, tải về tại đây. (cho Debian, Ubuntu, Fedora và OpenSUSE). Riêng bản cài cho Mandriva tải về tại đây hoặc tại đây, bản này được convert từ bản dành cho Ubuntu 8.10 và cài tốt trên Mandriva 2009. Theo kinh nghiệm của tôi, các phần mềm nhỏ dùng alien convert từ bản dùng cho Ubuntu (deb sang rpm) thường cài được trên Mandriva, trong khi các bản rpm dùng cho Red Hat lại không cài được.
Bản mới nhất là Skype 2.1 beta có một tính năng mới thuận tiện cho chạy trên Linux là hỗ trợ Pulse Audio, soud server hiện được dùng phổ biến trong các bản Linux, do đó phần âm thanh không phải cấu hình. Các phiên bản Skype trước 2.1 có thể hơi rắc rối khi cấu hình âm.

Dịch vụ cơ bản của Skype là gọi miễn phí điện thoại qua Internet + chat giữa hai máy tính và hai người có account đăng ký với Skype. Nếu có webcam, hai bên có thể nhìn thấy nhau.


snapshot1(Nhấn vào hình để xem bản lớn hơn)


Phần cấu hình và test sound, video nằm trong màn hình Options như trong hình trên. Không có wizard hướng dẫn test như bản Skype for Windows nhưng cũng không cần thiết. Webcam hiện được hỗ trợ khá tốt trong Linux nhưng cũng có thể gặp trục trặc. Tôi đã thử, webcam Tako 10 thì Skype nhận tốt, nhưng Tako 01 thì không. Kể cả webcam hàng hiệu Logitec, đôi khi cũng phải cắm đi cắm lại.
Chất lượng tiếng và hình phụ thuộc vào chất lượng đường truyền Internet. Nếu đường truyền tốt, tiếng và hình chấp nhận được tuy có hơi trễ và đôi lúc ngắt đoạn.
Các dịch vụ trả phí của Skype: gọi tới điện thoại di động, cố định và ngược lại, gửi tin nhắn SMS, voice mail, chuyển tiếp cuộc gọi, v.v...
Skype có cả bản cài trên các mobile phone nhưng tôi chưa thử. Hai mobile phone cài Skype có thể gọi quốc tế cho nhau (?) với cước Internet nội.
Với những tính năng trên, Skype hiện là kẻ thù của các hãng cung cấp dịch vụ điện thoại cố định và di động.
Ngoài Skype, còn có Ekiga và Linphone cũng là phần mềm điện thoại trên Internet (VoIP) + chat có video.
Ekiga mặc dù viết cho GNOME nhưng được cài sẵn trên Mandriva KDE và các bản Linux khác. Tính năng tương tự Skype, chỉ có chất lượng chưa thử nên không rõ. Nhược điểm thấy ngay là Ekiga chỉ chạy được trên Linux, không có bản chạy trên Windows. Ekiga for Windows tải về tại đây. Cách cài đặt xem tại đây.
Linphone cũng như Ekiga, dựa trên giao thức SIP (Session Initiation Protocol ), một chuẩn mở về thoại trên Internet. Linphone chạy được trên Linux và Windows XP. Linphone có trong các kho phần mềm của Ubuntu, Mandriva, Linux Mint, ... cài đặt dễ dàng.
Cũng như Skype, phần dịch vụ cơ bản (thoại + chat giữa hai máy tính) là miễn phí. Người sử dụng cần có một account SIP đăng ký (miễn phí) với một dịch vụ nào đó. Địa chỉ để gọi có dạng (ví dụ) sip:zxc232@ekiga.net.
Nếu hay gọi điện thoại qua Internet, ngoài Skype có thêm Ekiga hoặc Linphone để dự phòng cũng không phải là thừa.

7/27/09

Ảnh màn hình này có gì lạ?

Cái màn hình này hơi khác thường.Nếu bạn không nhận ra thì xem tiếp phần dưới

session-gimp-word



Thanh tiêu đề trên cùng cho biết đây là màn hình trình duyệt web Mozilla Firefox. Nhìn cái màu nâu là biết Firefox đang chạy trên Ubuntu.

Bên trong trình duyệt có hai cửa sổ: một cửa sổ của Microsoft Word và một của GIMP, trình xử lý ảnh nguồn mở chạy trên Linux (tương tự Photoshop). Một ứng dụng Windows và một ứng dụng Linux cùng chạy và lại chạy trong trình duyệt web!

Màn hình nền thì giống màn hình nền của một bản Linux nào đó. Nhưng cũng lại nằm trong trình duyệt web!

Đây là một công nghệ mới của hãng Ulteo (ulteo.com) gọi là Open Virtual Desktop (OVD) technology. Đại thể thì công nghệ đó thế này:

  • Trong mạng có các máy chủ ứng dụng (application server) Windows và Linux riêng biệt. Trên mỗi máy chủ đó chạy các ứng dụng cần thiết (MS Office và GIMP như trong ví dụ trên) trên nền Windows server hoặc Linux server.

  • Dùng một máy chủ Linux chạy OVD Session Manager kết nối với các máy chủ ứng dụng nói trên.

  • Các máy trạm dùng trình duyệt web truy cập vào máy OVD Session Manager để khởi tạo một phiên làm việc (session). Trên trình duyệt sẽ xuất hiện màn hình desktop của một máy trạm ảo (virtual desktop) có tất cả các ứng dụng Windows và Linux đang chạy trên các máy chủ ứng dụng. Khi chạy MS Word thì màn hình Word mở ra, Word thực tế chạy trên máy chủ, thông qua Terminal Service của Windows server để cấp giao diện Word đến trình duyệt. Máy chủ OVD Session Manager làm nhiệm vụ đầu mối trung gian để các máy trạm giao tiếp với các máy chủ ứng dụng.

  • Như vậy các máy trạm chỉ cần cài trình duyệt, không cần cài ứng dụng. Máy trạm có thể cài bất cứ hệ điều hành nào (Windows, Mac, Linux, ...) miễn là có một trình duyệt web hỗ trợ java.

  • Tóm lại cũng tương tự khi dùng trình duyệt web để soạn văn bản bằng Google Docs hoặc Zoho Writer từ các máy chủ Internet. Điểm khác biệt là các máy chủ ở đây nằm trong mạng LAN (và cả WAN). Tức là một dạng điện toán đám mây, phần mềm như dịch vụ (SaaS) nhưng ở trong mạng LAN (WAN). Chắc cũng dùng được cả trên Internet.


ulteo-scheme-web

Nhận xét sơ bộ (chưa thử) thì công nghệ này có mấy ưu điểm:

  • Web-base hóa ứng dụng đã có nhưng thực tế lại không phải sửa ứng dụng. Điều này rất tiện cho các đơn vị đã có các ứng dụng Windows, nay muốn chuyển desktop sạng dùng Linux.

  • Không rõ chế độ bán giấy phép sử dụng các phần mềm bản quyền cho trường hợp này tính thế nào. Nếu vẫn tính là cài cho một máy (chủ) thì người dùng lợi to.

  • Các máy trạm chỉ cần chạy được trình duyệt có hỗ trợ Java. Máy cũ và yếu chắc là vẫn xử lý ảnh được vì GIMP (hoặc Photoshop) chạy trên máy chủ.

  • Sướng nhất là các phòng tin học. Khỏi lo cài cắm ứng dụng, quét virus, backup dữ liệu trên máy trạm, chỉ tập trung chăm sóc mấy cái máy chủ. Tuy nhiên như đã nói trong bài "Điện toán đám mây",  điều này có thể dẫn đến thất nghiệp, giảm biên vô khối "cử nhân tin học" đang làm nhiệm vụ chăm sóc cả đống máy trạm.

7/7/09

Peazip - một trình nén và giải nén hay

Hay bởi vì peazip không chỉ nén và giải nén được vô số loại file mà còn có nhiều tính năng khác.

peazip1Nén và giải nén được các loại file:

Giải nén được các loại file:

ACE, ARJ, CAB, CHM, COMPOUND (MSI, DOC, XLS, PPT), CPIO, ISO, Java (JAR, EAR, WAR), Linux (DEB, PET/PUP, RPM, SLP), LHA/LZH, LZMA, Mac (DMG/HFS), NSIS, Open Office files, PAK/PK3/PK4, RAR, SMZIP, U3P, UDF, VHD, WIM, XAR, XPI, XZ, Z/TZ


Tổng cộng hỗ trợ 87 kiểu file nén khác nhau.

Tạo được file nén tự giải (self-extracting).

Tạo và giải nén nhiều file cùng một lúc.

Có các bản cài (installable) chạy được trên Windows 32, 64 bit và trên Linux. Có cả bản không cần cài (portable) để chạy trên usb, ... Giao diện trong mọi trường hợp trên đều giống nhau.

Có một số tính năng xử lý file (hình dưới)

  • peazip2Chia một file lớn thành nhiều phần hoặc nối các phần đã chia thành một file (Splite/Join files).

  • So sánh các file với nhau (Compare files)

  • Tạo số kiểm tra file (Checksum/hash files)

  • Xóa vĩnh viễn file, không undelete, recovery được (Secure delete)


Bảo mật file nén bằng password, mã hóa nội dung file bằng password hoặc bằng cả password và key file (có chức năng tạo password ngẫu nhiên).

Trang chủ và download tại đây. Có tài liệu hướng dẫn sử dụng chi tiết (pdf).

Nhược điểm:

Khi cài xong, nhấn phím phải chuột vào một file nén, các menu cũ (Extract Here, Extract To...) bị mất, thay vào là các lệnh của Peazip. Khi nhấn phím phải chuột vào một file nén của Linux dạng tar.gz hoặc tar.bz rồi chọn Extract here (Peazip) thì không giải nén hết ngay: đầu tiên giải nén thành file tar, sau đó phải Extract here lần nữa mới thành các file gốc.

Lâu ngày không dùng Winzip, không nhớ các tính năng để so sánh. Tuy nhiên có một ưu điểm: Peazip là phần mềm nguồn mở nên cài vô tư lên Windows, không cần crack như Winzip.

6/24/09

Hai kiểu link giữa các file OpenOffice Calc

Giả sử ta có một file bảng tính gốc test2.odt với các ô từ B2-B5 có dữ liệu như sau:

test2Ta muốn copy các dữ liệu này sang một bảng tính khác test1.odt sao cho khi các dữ liệu trong hình trên ở file test2 thay đổi thì các dữ liệu tương ứng ở test1 cũng thay đổi.

Cũng giống như trong Excel, có hai cách làm:

Cách 1: Mở cả hai file, trong file test1, đánh dấu = vào ô đầu tiên muốn copy rồi chuyển sang file test2 nhấn vào ô B1 rồi Enter. Quay về test1, ô đầu tiên đã được copy, rê chuột kéo xuống các ô dưới, màn hình như sau:

test3Chú ý thanh công thức, công thức link ở đây là ='file:///home/zxc/test2.ods'#$Sheet1.B2

Cách 2: Mở cả hai file. Trong file test2, bôi đen các ô định copy rồi nhấn nút Copy trên toolbar. Chuyển sang file test1, nhấn chuột vào ô đầu tiên định copy rồi nhấn menu Edit -> Paste Special. Trong màn hình xuất hiện  đánh dấu chọn mục Link rồi OK. Màn hình như sau:

test4Chú ý thanh công thức, công thức khác với cách trên.

Đặc điểm:

Trong màn hình của file test1, nhấn vào menu Edit -> Links ta có:

test5Trong màn hình trên có hai link. Link thứ nhất có Type=Document và Status=Manual là link của cách 1. Link thứ hai có Type=soffice và Status=Automatic là link của cách 2.



Theo cách 1 thì dữ liệu ở test1 không tự động thay đổi khi dữ liệu ở test2 thay đổi. Khi thay đổi dữ liệu ở test2 xong, phải nhấn nút Save rồi sang test1 mở màn hình Edit Links trên nhấn nút Update, dữ liệu trong test1 mới được cập nhật. Có khi phải nhấn vài lần Update dữ liệu mới cập nhật.

Theo cách 2, dữ liệu tự động cập nhật. Chỉ cần sửa dữ liệu trong test2 là dữ liệu trong test1 tự động sửa theo ngay.

Ngoài ra, theo cách 2, khi nhấn vào nút Modify có thể sửa được một vài thứ của link. Theo cách 1, nhấn nút Modify chỉ sửa được mỗi đường dẫn của file.

Còn một chỗ nữa để điều khiển update link. Nhấn vào menu Tools -> Options -> OpenOffice Calc -> General. Trong mục Updating có thể chọn cho link tự động update khi mở file, hỏi trước khi updat hoặc không bao giờ update.

Còn hai vấn đề nữa về link tôi chưa thử được vì không còn Windows trên máy. Bạn đọc tự thử:

1- Khi mở file test1 có chứa hai kiểu link nói trên bằng MS Excel thì Excel hiểu hai link đó thế nào?

2- Trong Excel, hai kiểu link trên có các đặc điểm giống như trên không?

6/2/09

Viết công thức toán học trong OpenOffice Writer

Viết công thức toán học trong một văn bản là một điểm yếu của OpenOffice Writer so với WinWord. Mặc dù Writer có chức năng Insert -> Objects -> Formula gọi chương trình OpenOffice Math nhưng cách dựng công thức của Writer dùng một thứ ngôn ngữ lập trình của LaTex (trình soạn văn bản khoa học kỹ thuật) khá khó hiểu và phức tạp với người dùng bình thường.


Để dễ viết công thức hơn, có thể cài thêm extension Dmaths vào Writer (tải về tại đây). Giải nén file Dmaths32.zip thành thư mục Dmath32. Trong Writer, nhấn vào Tools -> Extension Manager -> Add rồi tìm đến file DmathsAddon.oxt trong thư mục Dmath32 để cài.


Khởi động lại Writer, thanh toolbar của Dmaths sẽ xuất hiện ở dạng floating. Tìm một ô nhỏ hình vuông có chữ D trên nền màu vàng, nhấn vào đó để tắt toolbar đi. Sau đó dùng chuột rê ô chữ D vào một vị trí trên toolbar chính của Writer. Nhấn lại vào chữ D, toolbar của Dmaths lại xuất hiện. Dùng chuột rê nó vào vị trí cố định bên dưới Format toolbar rồi nhấn nút D để tắt nó đi. Ngoài ra menu Dmaths cũng xuất hiện trên hàng menu.


Screenshot-1


Về bản chất, Dmaths cũng dựa trên ngôn ngữ dựng công thức sẵn có của Writer, chỉ đưa thêm vào các màn hình và hướng dẫn cho dễ làm hơn. Nhưng mức độ dễ dùng thì vẫn thua WinWord. Đây sẽ là một cản trở trong việc áp dụng OpenOffice vào ngành giáo dục. Các thầy cô dạy toán tiểu học hoặc trung học mà dùng được Writer để soạn bài hoặc ra bài tập cho học sinh sẽ vất vả hơn nhiều so với dùng WinWord.



Ví dụ: Viết công thức sau:

Screenshot


Nguyên tắc: viết từ ngoài vào trong. Trong ví dụ trên: đầu tiên viết hai dấu ngoặc nhọn, tiếp đến ký hiệu tổng, hai dấu ngoặc lớn, dấu phân số, hai dấu ngoặc của tử số, biểu thức trong tử số, hai dấu ngoặc mẫu số, biểu thức mẫu số. Xong.


Cụ thể:



Nhấn vào nút để bật Dmaths toolbar.
Trên thanh Dmath toolbar, nhấn vào nút  ta có màn hình sau:

Hai dấu ngoặc nhọn: Nhấn vào nút để nhập ngoặc nhọn ngòai cùng của biểu thức. Trên thanh nhập liệu sẽ xuất hiện các mã sau (không cần quan tâm):




Dấu tổng: nhấn chuột vào hàng Intergral/Sum/Product (Tích phân/Tổng/Tích) rồi nhấn vào nút Validate the selection, màn hình sau xuất hiện:

Đánh dấu chọn Enter a sum. Trong ô Variable, gõ vào i (mặc định là x), ô from nhập 10, ô to nhập 100, nhấn chuột chọn mục Enter a sum rồi nhấn nút Enter. Màn hình quay về như sau:

Hai dấu ngoặc lớn: trong màn hình trên, nhấn vào nút để mở hai dấu ngoặc lớn.
Phân số: nhấn chuột vào hàng chữ A fraction (phân số) ta có màn hình sau:

Ở ô tử số (Numerator) gõ vào (a+b+c) và mẫu số (Denominator), (d+e+f) như hình trên rồi nhấn Enter.
Trong màn hình tiếp theo nhấn nút Finish để kết thúc.




private:stream Page 1 of 1