Showing posts with label Ubuntu. Show all posts
Showing posts with label Ubuntu. Show all posts

3/8/10

Dọn dẹp Ubuntu (và các bản Linux khác)


Dọn dẹp Ubuntu (và các bản Linux khác)


(Dưới đây lấy ví dụ cho Ubuntu và cũng có  thể áp dụng cho các bản Linux khác)


Sau một hồi cài thêm, gỡ bỏ, cập nhật phần mềm và cả trong quá trình sử dụng bình thường, trong Ubuntu xuất hiện nhiều rác.



I. Bleachbit


Bleachbit là một chương trình dọn dẹp được khá nhiều loại rác. Sau khi cài đặt từ kho phần mềm của Ubuntu, nó xuất hiện trong menu Applications → System Tools dưới hai tên: Bleachbit và Bleachbit (as root).


Nếu chạy Bleachbit theo quyền của một user thường, sẽ chỉ xóa được những dữ liệu cá nhân của user đó: các dữ liệu của Firefox, OpenOffice, GIMP, Flash, Adobe Reader,.... Một số mục trong phần System nhưng nằm ở thư mục Home của user cũng xóa được.


Đặc biệt trong phần Firefox có mục Vacuum dùng để giảm phân mảnh cơ sở dữ liệu của Firefox, làm cho trình duyệt chạy nhanh hơn sau một thời gian sử dụng. Firefox có đến 10 cơ sở dữ liệu SQLite chứa các loại dữ liệu khác nhau. Ngoài cách dùng Bleachbit, còn có thể dùng add-ons SpeedyFox để dọn (xem thêm tại đây).


Để dọn các phần thuộc về hệ thống, phải chạy Bleachbit (as root). Sau khi nhập password, màn hình Bleachbit cũng tương tự như trên (không có các mục liên quan đến user như Firefox, OpenOffice, KDE, ...), trong đó:


APT: gồm các mục con:





  • clean để xóa tất cả các file cài đặt, cập nhật đã tải về từ Internet còn lưu trong thư mục /var/cache/apt/archives. Lệnh thực hiện là sudo apt-get clean. Những file này khá lớn, giải phóng được nhiều dung lượng ổ cứng.




  • autoremove để xóa các file “mồ côi – orphan” không có phần mềm nào cần đến nó. Lệnh thực hiện là sudo apt-get autoremove.




  • Autoclean: như clean nhưng chỉ xóa những file có version cũ, để lại file mới nhất.




System: có mấy mục đáng chú ý:





  • Cache: xóa dữ liệu trong thư mục ẩn /root/.cache




  • Broken desktop files: xóa các menu của các chương trình đã xóa và liên kết đến các loại file của chương trình đó.




  • Free disk space: ghi đè dữ liệu rỗng lên vùng các file đã xóa.




  • Localizations: xóa tất cả các loại file ngôn ngữ không cần thiết, chỉ để lại các file ngôn ngữ đã chọn trong Edit → Preferences → Languages.




  • Temporary Files: các file tạm lưu trong /tmp.




Sau khi đánh dấu chọn các mục cần thiết, nhấn nút Preview để xem trước danh sách các file sẽ xóa (xem hình trên) rồi nhấn nút Delete để xóa.


Bleachbit dùng được cả cho Windows, Mandriva, Fedora, OpenSUSE, ..., tải về tại đây.



II. Wajig


Wajig là chương trình không chỉ để dọn dẹp các file thừa khi cài đặt, gỡ bỏ mà còn để cài đặt, chữa lỗi cài đặt, cập nhật, xem danh sách file, v.v... khá nhiều việc xung quanh việc cài và gỡ phần mềm.


Wajig có trong kho phần mềm của Ubuntu. Sau khi cài, nhấn Alt+F2 rồi chạy lệnh gjig. Màn hình như sau:



Mỗi nút trên màn hình ứng với một lệnh, khi nhấn sẽ có một cửa sổ terminal hiện lên thực hiện lệnh đó. Di con trỏ vào từng nút sẽ có mô tả lệnh xuất hiện.



III. Gỡ bỏ các Linux kernel cũ


Ubuntu 9.10 khi mới cài có nhân Linux version 2.6.31-14, trên boot menu dòng lệnh tương ứng là Ubuntu, Linux 2.6.31-14 generic.


Sau nhiều lần cập nhật, cho đến nay phiên bản nhân là 2.6.31-20, mỗi lần cập nhật, nhân cũ không bị xóa, vẫn có một giòng lệnh trên boot menu. Nếu nhân mới có gì trục trặc, vẫn có thể chọn khởi động vào một trong các nhân cũ đã hoạt động tốt.


Nếu phiên bản nhân mới nhất hoạt động tốt trên máy của bạn, có thể xóa các nhân cũ đi như sau:





  • Vào menu System → Adminstration → Synaptic Package Manager




  • Trong màn hình của Synaptic, gõ vào ô Quick Search từ “kernel”, nhấn tiếp vào từ Package ở cột Package để xếp thứ tự gói theo abc rồi tìm và đánh dấu Mark for Complete removal tất cả các gói linux-headers-2.6.31.x, linux-headers-2.6.31.x-generic, linux-image-2.6.31-x, linux-image-2.6.31-x-generic với x=14-19 đã cài, chỉ để lại các gói mới nhất 2.6.31-20. Gỡ bỏ các gói này giải phóng được khoảng 600-900MB ổ cứng.




  • Sau đó khởi động lại, trên boot menu sẽ chỉ còn hai hàng ứng với phiên bản nhân mới nhất.




2/17/10

Năm bản Linux hay dựa trên Ubuntu


Năm bản Linux hay dựa trên Ubuntu.


Christopher Smart


Wednesday, February 10th, 2010


( Linux có cái hay là có thể dựa trên một bản có sẵn, sửa đổi thành một bản mới. Ubuntu dựa trên nền Debian. Hiện có hàng chục bản Linux khác dựa trên nền Ubuntu, trong đó nổi tiếng nhất có lẽ là Linux Mint. Dưới đây là một vài bản độc đáo và mới).



I. DEFT (Digital Evidence & Forensic Toolkit)


DEFT là bản Linux 32bit dùng điều tra các bằng chứng pháp lý số hóa ( tương tự như CAINE đã giới thiệu ở đây)


DEFT là bản live CD, có môi trường đồ họa dựa trên LXDE (Lightweight X11 Desktop Environment) và bộ công cụ các phần mềm nguồn mở để tìm kiếm, phân tích các bằng chứng số như DHash, Sleuthkits’s Autopsy, ophcrack, ClamAV, Wireshark, Gigolo, Nessus v.v....


DEFT desktop
DEFT desktop



II. Element


Element là bản Linux 32 bit dành cho các máy tính PC chuyên chơi các file multimedia (home theatre PC) trên màn hình TV. ( Tức là thay cho đầu đĩa CD/DVD, dùng máy tính làm đầu chơi file multimedia có trên ổ cứng, hiển thị ra màn hình TV).


Element được thiết kế để chạy trên các máy PC đặt trong phòng khách, kết nối với màn hình TV độ phân giải cao, điều khiển bằng bộ điều khiển từ xa của TV. Điểm đặc biệt của Element là nó hỗ trợ giao diện 10 feet, ( một loại giao diện đồ họa đặc biệt trong đó font, các nút bấm, các menu hiển thị trên các màn hình TV cỡ lớn phải đủ lớn sao cho đứng cách xa 10 feet (3 mét) cũng nhìn rõ). Môi trường đồ họa của Element là Xfce4.


Element's ten foot user interface
Element’s ten foot user interface


Chức năng chính là chơi nhạc, xem video, xem ảnh, xem video từ Internet, nhưng Element cũng có các phần mềm cơ bản của máy tính như trình duyệt Firefox, trình ghi đĩa CD/DVD Brasero.


Element được cài sẵn XBMC Media Center, một phần mềm ứng dụng rất phổ biến để quản lý các file multimedia. Vì dựa trên Ubuntu nên có thể kết nối vào các kho phần mềm của Ubuntu để cài thêm các phần mềm cần thiết. Element cũng tự quảng cáo là có thể dùng như một đầu chơi game với hàng trăm game 3D và các loại game khác có sẵn.


Element with XBMC running
Element với XBMC đang chạy



III. Jolicloud


Jolicloud là một phiên bản Linux được tối ưu hóa cho netbook, tương thích với một số lớn netbook.


Giao diện của nó nằm trung gian giữa Moblin và Netbook Remix.


Jolicloud netbook desktop
Jolicloud netbook desktop


Ngoài một số phần mềm ứng dụng thông thường cho máy để bàn, điểm mạnh của Jolicloud là có cài sẵn một dịch vụ điện toán đám mây: người dùng có thể backup hoặc lưu trữ dữ liệu online. Như vậy, Jolicloud cân bằng giữa hai môi trường: máy để bàn và điện toán đám mây.


Jolicloud cloud service
Dịch vụ điện toán đám mây của Jolicloud


Trình cài đặt của Jolicloud chạy trong Windows ( file exe, tức là trên netbook phải có Windows đã cài). Nó sẽ tạo thêm partition và cài Jolicloud có thể boot vào Windows hay Jolicloud tùy chọn. Một trong những mục tiêu của Jolicloud là đơn giản tối đa vì vậy trình cài đặt của nó chỉ gồm 3 bước và cài xong trong 15 phút. Cũng có một option cài đặt cao cấp dành cho những người thạo Linux.


Dù còn đang ở phiên bản beta, Jolicloud hoạt động trơn tru. Nếu bạn chưa hài lòng với bản Linux netbook hiện có, hãy thử Jolicloud.



IV. moonOS


Nếu bạn cho rằng Linux chỉ có hai môi trường đồ họa là Gnome và KDE thì cũng có thể tha thứ được, mặc dù thực ra có đến hơn chục cái như thế ( xem thêm tại đây). Trong số ít những cái nổi bật, một trong những cái rất đặc biệt đã được phát triển trên chục năm nay là Enlightenment.


Enlightenment là một môi trường đồ họa đầy đủ, có thể dùng chung hoặc dùng độc lập. Phiên bản hiện tại (E17) là phiên bản được viết lại mới hoàn toàn của phiên bản ổn định E16 từ tháng 12/2000. Mặc dù còn chưa xong hẳn nhưng E17 hoàn toàn có thể dùng được và có nhiều bản Linux đã dùng nó.


Một trong những bản Linux đó là moonOS , hệ điều hành có nguồn gốc Campuchia do nghệ sỹ Chanrithy Thim thực hiện ( may mà Việt nam còn có Hacao Linux). Bản này có nhiều trang trí nghệ thuật (atwork) độc đáo. E17 không có trong các kho phần mềm chính thức của Ubuntu, vì vậy moonOS là bản duy nhất dựa trên Ubuntu dùng E17 (và cả Xfce4). MoonOS chạy các ứng dụng GTK và có các ứng dụng cài sẵn được chọn cẩn thận như Firefox, OpenOffice.org, trình chơi nhạc Exaile, vẽ đồ họa GIMP và trình chat Pidgin.


moonOS E17 desktop and artwork
moonOS E17 desktop and artwork



V. wattOS


Nền công nghiệp máy tính đang thay đổi. Tiêu điểm đang chuyển từ các máy tính công suất lớn sang những máy tính công suất thấp, sử dụng năng lượng có hiệu quả. Trong khi nhân Linux có khả năng quản lý năng lượng rất tốt và có những trình quản lý năng lượng tuyệt vời như PowerTop, có bản Linux nào dành riêng hoàn toàn cho hiệu quả sử dụng năng lượng không?


Có wattOS, một hệ điều hành Linux nhẹ, chạy rất nhanh và sử dụng năng lượng tiết kiệm. Nó dùng môi trường đồ họa Openbox, một môi trường rất nhẹ, có khả năng tùy biến cao, rất thích hợp cho các máy tính yếu và do đó tiêu thụ ít điện năng.


WattOS có những phần mềm mới nhất của Ubuntu nhưng cũng có những công cụ quản lý năng lượng khác nhau để theo dõi và chỉnh tiêu hao công suất hệ thống. Giao diện đơn giản và có thể tùy biến theo khẩu vị.


wattOS LXDE desktop
wattOS LXDE desktop


WattOS là một phương án lựa chọn cùng với các bản Linux tối thiểu khác như Damn Small Linux và Tiny Core, đặc biệt thích hợp cho các máy tính cũ tân trang lại. Nó dùng ít bộ nhớ nên có thể chạy trơn tru trong khi vẫn có thể dùng các phần mềm Ubuntu chuẩn.





11/18/09

Làm gì sau khi cài Ubuntu 9.10 (tiếp theo)


Vài thủ thuật dùng Ubuntu.


ZXC232 biên soạn, dựa trên bản gốc có link ở trên.



Cài codecs để chạy các file media và hỗ trợ DVD


1- Bổ xung kho phần mềm Mediabuntu.


Medibuntu (Multimedia, Entertainment & Distractions In Ubuntu) là một kho các gói phần mềm không có trong Ubuntu vì các lý do pháp lý (bản quyền, bằng phát minh, giấy phép, …). Bản Ubuntu gốc chỉ gồm các phần mềm tự do (free software).


Danh sách các phần mềm trong Medibuntu xem tại đây.


Mở Terminal, chạy các lệnh sau (copy rồi paste vào terminal) để bổ xung kho Medibuntu vào Ubuntu:


sudo wget http://www.medibuntu.org/sources.list.d/$(lsb_release -cs).list --output-document=/etc/apt/sources.list.d/medibuntu.list &&


sudo apt-get -q update &&


sudo apt-get --yes -q --allow-unauthenticated install medibuntu-keyring &&


sudo apt-get -q update


2- Cài gói non-free-codecs


Sau khi add kho Medibuntu, mở Synaptic và tìm cài gói non-free-codecs. Đây là gói tổng hợp (meta-package) gồm cả ubuntu-restricted-extras và một số thứ khác. Dưới đây là danh sách chi tiết:


cabextract freepats gsfonts-x11 gstreamer0.10-ffmpeg gstreamer0.10-plugins-bad gstreamer0.10-plugins-bad-multiverse gstreamer0.10-plugins-ugly gstreamer0.10-plugins-ugly-multiverse java-common liba52-0.7.4 libamrnb3 libamrwb3 libass3 libavcodec52 libavformat52 libavutil49 libcdaudio1 libcelt0 libdc1394-22 libdca0 libdirac0c2a libdvdnav4 libdvdread4 libenca0 libfaac0 libfaad0 libffado1 libfftw3-3 libfreebob0 libgsm1 libid3tag0 libiptcdata0 libjack0 libkate1 libmad0 libmimic0 libmjpegtools-1.9 libmms0 libmodplug0c2 libmp3lame0 libmp4v2-0 libmpcdec3 libmpeg2-4 libofa0 libpostproc51 libquicktime1 libschroedinger-1.0-0 libsidplay1 libsoundtouch1c2 libswscale0 libtwolame0 libwildmidi0 libx264-67 libxml++2.6-2 libxvidcore4 non-free-codecs odbcinst1debian1 sun-java6-bin sun-java6-jre sun-java6-plugin ttf-liberation ttf-mscorefonts-installer ubuntu-restricted-extras unixodbc unrar w64codecs (Total about 170 MB)


CHÚ Ý: hai mục trên cũng đã có trong perfectbuntu, chỉ thiếu libamrnb3 và libamrwb3. Do đó nếu đã chạy perfectbuntu rồi thì không cần làm như trên nữa.


3-  Thêm một số codecs, DVD và trình mediaplayer VLC và Mplayer


Để chơi DVD mã hóa, phải có libdvdcss2. Trình VLC và Mplayer là hai trong số những trình chơi media tốt nhất hiện nay. Cài bằng Synaptic hoặc bằng dòng lệnh các gói sau:


sudo apt-get install libdvdcss2 gxine libxine1-ffmpeg vlc mplayer mencoder (khoảng 80MB).



Dùng Gnome Control Center


Gnome Control Center tập hợp các mục trong System vào một màn hình. Dùng nó đỡ phải dò tìm trong các menu Preferences và Administration. Mặc định nó bị tắt. Để bật lên, nhấn vào System > Preferences > Main menu. Trong màn hình Main Menu, chọn System ở cột bên trái rồi đánh dấu chọn Control Center ở cột bên phải. Sau đó, Control Center sẽ xuất hiện ở menu System.



Thiết lập profile chung của Firefox và Thunderbird


Mọi thiết lập của Firefox hoặc Thunderbird đều nằm trong một thư mục ẩn. Ví dụ với Firefox là /home//.mozilla/firefox/ckwzugd4.default. (tên của thư mục cuối có thể khác). Trong đó có bookmarks, histories, các extensions, cache, email, v.v... Các nội dung trong các thư mục đó tạo nên profile của Firefox hoặc Thunderbird.


Nếu trên máy cài từ hai hệ điều hành trở lên (Windows, Linux) và đều dùng Firefox, Thunderbird, có thể tạo một profile chung để dù chạy hệ điều hành nào thì Firefox và Thunderbird cũng vẫn giống nhau về mọi thứ. Cách làm như sau:


Mở terminal, chạy lệnh:


firefox   -P     hoặc


thunderbird    -P


Màn hình sau xuất hiện:




Trong lần chạy đầu, chỉ có một profile default trong danh sách. Đó chính là profile mặc định nằm trong thư mục ẩn nói trên.


Nhấn vào Create Profile, tạo một profile khác ở thư mục dùng chung cho các hệ điều hành, My Documents chẳng hạn.


Sau đó, dù đang ở hệ điều hành nào, Firefox cũng dùng một profile chung. Với Thunderbird, trong profile có các thư mục email, nên ở hệ điều hành nào email cũng như nhau.



Quản lý hệ thống


1- StartUp Manager


Chương trình này dùng quản lý, thay đổi màn hình khởi động và boot menu, tìm cài từ Ubuntu Software Center (gõ từ Boot vào ô tìm kiếm). Sau khi cài, chạy từ System > Administration > StartUp-Manager.




2- BootUp-Manager:


Chương trình này cũng tìm cài từ Ubuntu Software Center như trên. Sau khi cài, chạy từ System > Administration > BootUp-Manager.




Trong màn hình trên, các dịch vụ tự động chạy khi boot máy được đánh dấu chọn ở cột Activate. Có thể bỏ bớt một số không cần thiết để tiết kiệm bộ nhớ và giảm tải cho CPU:


• Common Interface to speech synthesizers: bộ tổng hợp tiếng nói.


• Samba nameservice …. : nếu không nối mạng Windows.


• Bluetooth services: nếu không dùng thiết bị bluetooth.


• Fast remote file …: nếu không cần đồng bộ file với máy khác.


• Scanner services: nếu không dùng scanner.


• v.v.....


3-Bỏ khởi động các chương trình không cần thiết


Vào System > Preferences > Startup Applications. Một số chương trình trong đó có thể không cần khởi động (Bluetooth Manager, Visual Assistances,...).


4- Thiết lập tường lửa


Ubuntu có tường lửa (ufw - Uncomplicated Firewall) cài sẵn nhưng không kích hoạt. Mở Ubuntu Software Center, search từ “gufw” rồi cài Firewall Configuration là giao diện của ufw. Chạy từ System > Administration > Firewall Configuration.




Đánh dấu mục Enabled để kích hoạt tường lửa. Nhấn nút Add để lập các quy tắc.


5- Cài chương trình chống virus


Nếu hay giao dịch file với các máy Windows thì nên cài một chương trình antivirus để quét virus hộ các máy đó. Mở Ubuntu Software Center, search từ “virus” rồi chọn cài, ví dụ Virus Scanner. Cài xong chạy từ Applications > System Tools > Virus Scanner.




6- Vài thứ khác:


Nautilus-scripts và Ubuntu Tweak xem ở đây.


7- Gỡ các gói phần mềm mồ côi.


Khi cài một phần mềm mới, các phần mềm phụ thuộc (dependency) cần thiết để chạy phần mềm đó cũng được cài theo. Nhưng khi gỡ bỏ (remove) phần mềm chính, các phần mềm phụ thuộc lại không được gỡ và trở thành phần mềm thừa, “mồ côi”, không liên quan đến phần mềm nào cả.


Dùng lệnh: sudo apt-get autoremove


Hoặc cài phần mềm gtkorphan (từ Synaptic Package Manager).


Trong các bản Ubuntu trước, các phần mềm tải về từ Internet để cài hoặc update được lưu trong thư mục /var/cache/apt. Khi cài xong, các gói cài đặt đó cũng không cần nữa. Xóa nó đi bằng lệnh:


sudo apt-get clean


Ubuntu 9.10 hình như cài xong là xóa luôn nên có thể không cần đến lệnh trên.


8- Bổ xung font


Khi chạy perfectbuntu hoặc ubuntu-restricted-extra hoặc non-free-codecs đã nói ở trên, một số font Windows như Arial, Time New Romans, ... cũng được cài.


Nếu muốn bổ xung thêm các font khác cho hệ thống (user nào đăng nhập vào máy cũng dùng được):


• Nhấn Alt+F2 để mở hộp thoại Run Command.


• Chạy lệnh gksu nautilus để mở Nautilus bằng quyền root.


• Copy các file font thêm (hoặc thư mục font thêm) vào /usr/share/fonts.


Để bổ xung font cho riêng user đang đăng nhập:


• Nhấn vào menu Places > Home Folder, trong màn hình Nautilus nhấn vào menu View > Show Hidden Files.


• Nhấn tiếp menu File > Create Folder . Đặt tên folder mới là .fonts (có dấu chấm đằng trước để chỉ đó là folder ẩn).


• Copy các font thêm vào thư mục đó.


9- Chỉnh sửa menu và phím tắt để mở menu


Menu mặc định của Ubuntu là dạng menu bar gồm ba mục: Applications, Places và System. Có thể làm cho gọn hơn và quen thuộc hơn như sau:


• Nhấn phím phải chuột vào menu bar nói trên, chọn Remove from panel.


• Nhấn tiếp phím phải chuột vào panel, chọn Add to Panel.


• Trong danh sách hiện lên, chọn Main Menu rồi nhấn nút Add. Menu bây giờ xuất hiện trên panel chỉ còn một icon . Nhấn vào đó menu hiện lên giống kiểu Windows.


Trong Windows, phím Start trên bàn phím là phím tắt để bật menu chính Start. Trong Ubuntu, mở terminal chạy lệnh sau:


gconftool-2 --set /apps/metacity/global_keybindings/panel_main_menu --type string "Super_L"


Từ nay, nhấn phím Start, menu chính sẽ hiện lên. Nếu vẫn dùng menu bar mặc định thì menu Applications sẽ xuất hiện.



11/5/09

Khôi phục khởi động vào Ubuntu 9.10 sau khi cài lại Windows


0- Đôi điều về GRUB2


Bắt đầu từ Ubuntu 9.10, chương trình GRUB2 được dùng thay cho GRUB1 phổ biến xưa nay. GRUB2 được viết lại từ đầu, không phải bản nâng cấp của GRUB1 do đó có nhiều điểm khác so với GRUB1. Vì vậy tìm hiểu để làm chủ được nó là cần thiết.


GRUB (viết tắt của GRand Unified Bootloader) là chương trình khởi động hệ điều hành (bootloader) dùng phổ biến ở các hệ điều hành kiểu Unix: Linux, Solaris. Windows dùng bootloader là NTLDR. Nhiệm vụ của bootloader là tải hệ điều hành vào RAM sau đó trao quyền điều khiển máy tính cho hệ điều hành.


Khi máy tính khởi động, đầu tiên nó đọc ROM BIOS để tìm xem khởi động từ thiết bị nào (CDROM, ổ cứng, ổ mềm, ổ USB hay mạng). Tiếp theo, nó tải chương trình GRUB stage 1 từ Master Boot Record (MBR) của thiết bị đó vào RAM, sau đó GRUB stage 1 chỉ làm mỗi một việc là tìm GRUB stage 2 trên thiết bị khởi động, tải tiếp nó vào RAM và chuyển quyền điều khiển cho GRUB stage 2.


GRUB stage 2 sẽ cho hiện boot menu để người dùng chọn khởi động hệ điều hành nào đang có trên ổ cứng.


Lệnh cài GRUB stage 1 là “grub-install”. File cấu hình của GRUB stage 2 với Ubuntu (trước 9.10), Debian, openSUSE là /boot/grub/menu.lst; với Fedora là /boot/grub/grub.conf; với Ubuntu 9.10 là /boot/grub/grub.cfg và /etc/default/grub.


Đặc biệt, người dùng không được phép chỉnh sửa /boot/grub/grub.cfg như với menu.lst.


1- Khôi phục GRUB2 sau khi cài lại Windows:


Khi cài chung Ubuntu 9.10 và Windows trên cùng một máy, có khi sau đó phải cài lại Windows vì virus, hỏng file, v.v... Windows sẽ ghi đè lên MBR, do đó khi khởi động máy chỉ vào thẳng Windows mà không có boot menu để chọn, do đó không khởi động được Ubuntu nữa.


Để khôi phục lại boot menu, theo một trong hai cách sau:


Cách 1: dùng đĩa CD của Ubuntu 9.10.


Boot máy bằng đĩa CD Ubuntu 9.10. Khi khởi động xong, mở Terminal ( Applications > Accessories > Terminal) rồi chạy lần lượt các lệnh sau:


(Giả sử Ubuntu cài trên partition sda3 của ổ cứng sda)


sudo -i(để chuyển sang user root).


mount /dev/sda3 /mnt


grub-install --root-directory=/mnt/ /dev/sda


mount --bind /proc /mnt/proc


mount --bind /dev /mnt/dev


mount --bind /sys /mnt/sys


chroot /mnt update-grub


umount /mnt/sys


umount /mnt/dev


umount /mnt/proc


exit


Cách 2: Dùng chương trình grub4dos


Tải file zip mới nhất của grub4dos từ đây. Giải nén ra.


Với Windows XP:


Copy file grldr trong gói grub4dos vào C:\. Mở file ẩn boot.ini và thêm dòng sau vào file:



c:\grldr=”grub4dos”

Với Windows Vista và Windows 7:


Copy hai file grldr,grldr.mbr vào C:\. Tạo file boot.ini tại C:\ rồi copy và paste đoạn mã sau vào trong file:



[boot loader]
timeout=0
default=c:\grldr.mbr
[operating systems]
C:\grldr.mbr=”Grub4Dos”

Tạo file menu.lst trong C:\ , copy và paste đoạn mã sau vào trong file:



timeout 0
default 0
title grub2
find
--set-root /boot/grub/core.img
kernel /boot/grub/core.img
boot

Khởi động lại máy, chọn boot từ Grub4Dos. rồi chọn tiếp boot vào Ubuntu từ boot menu. Sau khi đã login vào Ubuntu, chạy lệnh sau trong Terminal để cài lại grub vào MBR:


sudo grub-install /dev/sda


2- Sửa một vài thông số khởi động.


Trong Ubuntu 9.10, nhấn Alt+F2 rồi chạy lệnh sau để mở file:


gksu gedit /etc/default/grub


Trong file này có một số thông số thay đổi được:


GRUB_DEFAULT=0 Trị số 0 quy định hệ điều hành tự động khởi động là ở hàng đầu tiên của boot menu , tức là Ubuntu 9.10. Muốn Windows khởi động tự động, xem nó ở hàng thứ mấy (đếm từ 0) trong boot menu rồi thay giá trị đó vào đây.


GRUB_TIMEOUT="10" 10 giây là thời gian boot menu chờ người dùng chọn hệ điều hành, nếu không chọn, hệ điều hành quy định ở GRUB_DEFAULT sẽ được khởi động. Muốn nhanh hơn có thể thay giá trị thấp hơn, ví dụ 5.


Sau khi sửa file nói trên, cần mở terminal chạy lại lệnh sudo update-grub.


3- Sửa file /boot/grub/grub.cfg


Mặc dù file này được bảo vệ rất kỹ, nhưng vẫn có thể sửa được với các lệnh sau:


sudo chmod +w /boot/grub/grub.cfg


sudo nano /boot/grub/grub.cfg


Ví dụ: khi trên máy đã cài Mandriva, sau khi cài Ubuntu 9.10 mặc dù trong boot menu có dòng dành cho Mandriva nhưng khi chọn nó thì Mandriva không khởi động được.


Nếu mở file grub.cfg như trên thì thấy đoạn dành cho Mandriva như sau:


menuentry "linux (on /dev/sda6)" {


insmod ext2


set root=(hd0,6)


search --no-floppy --fs-uuid --set 4c7b246a-654d-447d-8e6d-1b0b39f66eb1


linux /boot/vmlinuz BOOT_IMAGE=linux root=UUID=4c7b246a-654d-447d-8e6d-1b0b39f66eb1 splash=silent vga=788


initrd (hd0,5)/boot/initrd.img


}


Sửa lại dòng initrd (hd0,5) thành initrd (hd0,6) giống như dòng set root = (hd0,6) ở trên là boot vào Mandriva được.


Sửa tiếp dòng linux (on /dev/sda6) thành Mandriva (on /dev/sda6) để hiện tên Mandriva trên boot menu.


Chi tiết hơn về GRUB2 xem tại đây. và tại đây.







11/3/09

Làm gì sau khi cài xong UBUNTU 9.10 (và các bản Linux khác)


LÀM GÌ SAU KHI CÀI XONG UBUNTU 9.10 (và các bản Linux khác)


Ubuntu 9.10 bản chính thức đã khắc phục được các lỗi 1,2,3 của bản beta nêu ở đây. Sau khi cài xong, nếu muốn chung sống với các bản Linux khác đã cài dùng grub1, xem hướng dẫn ở đây.


Sau khi cài xong Ubuntu từ đĩa CD, khởi động lại máy, tôi làm các việc sau đây (một số cái áp dụng được cho cả các bản Linux khác):


1- Cài đặt kết nối mạng:


Nếu mạng không cần cài (tự cấp IP), tự kết nối thì biểu tượng của Network Manager trên panel như thế này . Nếu chưa kết nối, biểu tượng sẽ như thế này (hơi khó nhìn).


Với bản Ubuntu chính thức, Network Manager đã làm việc tốt kể cả khi cài đặt mạng với IP tĩnh. Nhấn phím phải chuột vào biểu tượng trên, chọn Connection Information để xem các thông số về mạng.


2- Chọn lại kho phần mềm:


Khi cài, Ubuntu đã chọn kho phần mềm mặc định là Server for Vietnam (vn.archives.ubuntu.com) nhưng kho này không nhanh. Nhấn chuột vào System > Administration > Software Sources > Download from > Other rồi cuốn xuống cuối danh sách, mục Vietnam để chọn kho của FPT.


3- Cài đặt thêm một số phần mềm:


Nhấn vào menu System > Administration > Synaptic Package Manager rồi chọn cài các gói phần mềm sau:




  • ubuntu-restricted-extra: để bổ xung một số phần mềm “có vấn đề” theo định nghĩa nguồn mở : flash plugin, một số font của Microsoft, một số codecs để chơi file multimedia, trình giải nén unrar, …

  • scim-bridge-client-gtk: để cài bộ gõ tiếng Việt scim-unikey. Bộ gõ ibus cài sẵn trong Ubuntu 9.10 có nhược điểm phải có phím kết thúc từ, chưa nên dùng.

  • Stardict-gnome: chương trình từ điển Stardict.

  • openoffice.org: chọn cài riêng gói này để bổ xung một số gói còn thiếu của OpenOffice.org

  • catdoc và wv: cài hai gói này để chuẩn bị cài Google Desktop Search.

  • pysdm: chương trình dùng mount tự động các partition khác trên ổ cứng vào thư mục do người dùng chọn.

  • Multimedia: Ubuntu có cài sẵn trình mediaplayer là Totem (Applications > Sound & Video > Movie Player). Nếu dùng Totem thì kiểm tra xem các gói gstreamer-plugins-good, bad và ugly (kể cả bad-multiverse và ugly-multiverse) đã cài chưa. Nhưng nên cài một trong những trình mediaplayer hay nhất hiện nay là Smplayer (và cả gecko-mediaplayer là plugin để chơi media trong Firefox).

  • sun-java6-plugin: chọn cài gói này để cải toàn bộ môi trường Java cần thiết cho các tính năng cao cấp của Openoffice.org và Firefox.

  • Peazip: đây là một trình nén và giải nén hay đã nói ở đây. Gói cài đặt không có trong kho của Ubuntu, tải về cài từ đây. Sau khi cài xong, chạy từ Applications > System Tools > peazip.desktop.

  • UDATE: tôi quên Perfectbuntu. Chạy nó để cài cả ubuntu-restricted-extra và nhiều cái khác nữa, đầy đủ hơn. Tải về tại đây. Nhấn phím phải chuột vào "Download Current Version", chọn Save Link As rồi ghi nó thành file perfectbuntu. Mở thư mục có file, nhấn phím phải chuột vào file, chọn Propeties > Permissions rồi đánh dấu chọn mục Allow executing file as program. Mỏ terminal, chuyển đến thư mục có file rồi chạy lệnh sudo ./perfectbuntu và trả lời các câu hỏi trên màn hình.


4- Cài đặt và cấu hình tiếp


a- Bộ gõ tiếng Việt scim-unikey: tải về từ đây hoặc add kho phần mềm của Ubuntu-VN theo hướng dẫn cũng tại link đó rồi cài bằng Synaptic. Cài từ kho thì có lợi là khi có bản cập nhật sẽ được tự động báo.


Sau khi cài, nhấn vào System > Administration > Language Support rồi trong mục Keyboard input method system chọn scim-bridge xong đóng màn hình lại.


Vào tiếp menu System > Preferences > SCIM Input Method Setup đặt các thiết lập sau:




  • FrontEnd > Global Setup: chọn Share the same input method

  • IMEngine > Global Setup: chọn Unikey và English\European, các mục khác bỏ.

  • Panel > GTK: chọn các mục Show on Demand, Auto snap, Show stick icon, Show tray icon và Stick Windows.


Scim-unikey trong Ubuntu 9.10 có một lỗi nhỏ là tray icon (hình vuông màu da cam) không hiện được trên panel như ở các bản Ubuntu trước. Do đó phải cho hiện GTK panel (mục show on demand ở trên) để có thể điều khiển và biết tình trạng bộ gõ. Trong các bản trước, có thể tắt GTK panel (Show Never) chỉ cần dựa vào tray icon là đủ.


b-Cài các file từ điển tiếng Việt: có trong kho của Ubuntu-VN đã nói ở trên.


c- Cài các add-on của OpenOffice: tùy theo nhu cầu. Xem một số post về add-on trong blog này.


d- Mount các partition: nếu trên ổ cứng có một partition NTFS chứa thư mục MyDocuments của Windows thì vào System > Administration > Storage Device Manager mount cố định nó vào thư mục /home/<username>/DATA. Sau đó, mở thư mục DATA bằng Nautilus rồi mở tiếp MyDocument và Add Bookmark để MyDocument xuất hiện ở cột bên trái, mở cho nhanh. Lệnh mount trên chỉ cần làm một lần và được ghi vào file /etc/fstab. Lần sau khởi động sẽ tự mount.


e- Cài trình tìm kiếm Google Desktop Search: trình tìm kiếm có sẵn (Applications > Accessories > Search for file) chậm và không tìm được từ tiếng Việt unicode bên trong file. Google Desktop Search lập index sẵn nên tìm rất nhanh, tìm được cả tiếng Việt unicode bên trong file (VNI và ABC chưa thử), đồng thời tìm được trong Gmail.


Tải về cài từ đây. Sau khi cài, vào Applications > Google Desktop > Google Desktop Preferences để cấu hình. Mở màn hình tìm kiếm bằng cách nhấn hai lần phím Ctrl.


f- Cấu hình OpenOffice:


Trong Writer, nhấn vào Tools > Options để mở màn hình Options và thiết lập các mục sau:




  • Memory: thiết lập như hình sau. Nhớ chọn Enable systray Quickstarter để khởi động OpenOffice cho nhanh.


Trong mục Paths bên dưới Memory, chọn tiếp My Documents ở ô bên phải rồi nhấn nút Edit để chỉnh đường dẫn mặc định về thư mục của mình, ví dụ /home/zxc/DATA/My Documents.




  • Java: nếu dùng đến các tính năng cần Java (Mail merge,...) thì đánh dấu chọn mục Use a Java. Nếu không thì bỏ chọn để OpenOffice chạy nhanh hơn.

  • Load/Save > General: chọn Always Create backup copy và chỉnh thời gian AutoRecovery xuống 5 phút cho khỏi mất dữ liệu. Mục Document Type nên để nguyên các định dạng file ODF nếu không hay giao lưu file với các máy khác dùng Windows, định dạng ODF có dung lượng file nhỏ hơn và điều quan trọng là nó là format mặc định của OpenOffice, do đó khi save không bị mất các format đã làm, mở cũng nhanh hơn.

  • Thay style của toolbar: toolbar của OpenOffice trong Ubuntu có style mặc định là human. Nếu thích có thể cài thêm các style khác trong kho phần mềm: openoffice-style-crystal, openoffice-style-industrial, v.v... Sau khi cài xong, mở Options > OpenOffice.org > View > Icon size and style rồi chọn trong danh sách thả xuống bên phải.


Còn nhiều thứ nữa, có lẽ nên dành cho một post riêng.


g- Cài Dropbox và Ubuntu One: hai dịch vụ này có cùng một tính năng: tự động sao lưu dữ liệu của một thư mục lên Internet và tự động đồng bộ thư mục đó trên nhiều máy khác nhau và cùng một dung lượng free 2GB. Điểm khác là Ubuntu chỉ chạy được trên Ubuntu 9.10, Dropbox chạy được trên mọi hệ Linux, Windows và Mac. Dropbox đã trình bày ở đây, khi cài nên chọn đưa thư mục Dropbox vào Home/DATA/My Documents để dùng chung với Windows và các hệ Linux khác trên cùng ổ cứng.


h- Firefox: cài thêm một số extension sau:





  • Xmarks hoặc Weave Sync: hai extension này làm việc giống như Dropbox, nhưng đối tượng lưu và đồng bộ của chúng là bookmarks, password, hystory, preferences (Xmarks chỉ đồng bộ bookmarks và password). Với các extension này, dù cài đi cài lại Linux hoặc trên nhiều máy thì các dữ liệu trên vẫn giống nhau. Weave nhiều tính năng hơn nhưng hiện tại có vẻ không tốt bằng Xmarks.




  • DownThemAll : trình quản lý, tăng tốc download dưới dạng extension. Tôi dùng trình này nhiều và thấy không cần cài hoặc dùng các trình ngoài như Kget, …




  • Tab Mix Plus : quản lý các tab; nhấn vào link, bookmark tự động mở tab mới.




  • Zoho Notebook Helper : sau khi Google Notebook ngừng phát triển thì Zoho Notebook thay thế. Extension này cho phép rê chuột bôi đen một đoạn quan tâm trên trang web rồi add nó vào Zoho Notebook kèm theo cả link. Như vậy hay hơn là bookmarks.




  • VnDict : dùng tra từ điển Anh Việt khi đọc web.




  • Email This! : bôi đen một đoạn văn bản rồi gửi mail (kèm cả link). Có thể dùng cái này để ghi nhớ các đoạn văn bản quan tâm trên web thay cho Zoho Notebook Helper bằng cách gửi mail cho chính mình.




5- Thay đổi hình thức màn hình


Nhấn vào System > Preferences > Appearance. Trong màn hình Appearance Preferences, nhấn vào tab Fonts, đổi các font màn hình từ Sans sang Free Sans, cỡ font tăng lên 12. Với tôi, font Free Sans đẹp và rõ hơn Sans.


Trang trí màn hình theo hướng dẫn ở đây.


Thay theme mặc định bằng theme khác theo hướng dẫn ở đây.


Tự động thay wallpaper theo hướng dẫn ở đây.


6- Cài thêm Desktop Environment


Môi trường đồ họa (Desktop Environment) mặc định của Ubuntu là Gnome. Mở Synaptic, cài thêm hai môi trường khác là KDE và Xfce (kèm theo cả một số ứng dụng cơ bản như email, trình duyệt file, v.v..) từ hai gói: kubuntu-desktop và xubuntu-desktop.


Để làm việc bình thường có thể dùng KDE hoặc Gnome tùy thói quen và sở thích. Khi cần nhanh thì log in vào Xfce. Cách log in và chọn môi trường đồ họa hơi khác các bản Ubuntu cũ: trước tiên phải nhập username và password, khi đó ở đáy màn hình xuất hiện một panel, trong đó có mục cho chọn Gnome, KDE hay Xfce.


Xem tiếp tại đây.


Còn một số thứ khác, tham khảo thêm ở đây.


















10/22/09

IBM và Canonical tuyên chiến với Windows 7


IBM VÀ CANONICAL TUYÊN CHIẾN VỚI WINDOWS 7


Ngày 20/10/2009 vừa qua, IBM và Canonical tuyên bố tung ra thị trường Mỹ bộ phần mềm IBM Client for Smart Work (ICSW) cạnh tranh trực tiếp với Windows 7.


Bộ phần mềm này dành cho một dải rộng cấu hình máy (máy để bàn, laptop và netbook), gồm có:





  • Hệ điều hành Linux Ubuntu 8.04.1. Bản này là bản hỗ trợ dài hạn (LTS) đến tháng 4/2011




  • Bộ phần mềm văn phòng Lotus Symphony của IBM dựa trên nền OpenOffice.




  • Bộ phần mềm cộng tác (mail, calendar, task,...) Lotus Note/Domino, Domino Web Access, iNotes của IBM. (mail của đám mây điện toán LotusLive iNotes có giá $3/user/tháng).




  • Dịch vụ cộng tác online Lotus Online Collaboration Services dùng dịch vụ đám mây điện toán LotusLive.com ($10/user/tháng)




  • Tích hợp sẵn một loạt chức năng: chia sẻ file, quản lý văn bản, chat, web conferencing, điện thoại IP, blog, wikis,...




  • Có thể chọn nhiều dạng client từ nặng đến nhẹ tùy cấu hình máy. Đây là ưu điểm của Ubuntu.




Đây là một cuộc đấu hay. Lần đầu tiên, Microsoft bị thách thức bởi một đại gia trong làng tin học tại ngay thị trường Mỹ. Bộ sản phẩm Lotus Notes/Domino của IBM cũng là sản phẩm nổi tiếng lâu đời ngang ngửa với Microsoft Exchange/Outlook, kết hợp với Ubuntu là bộ Linux đang lên như diều và phổ biến nhất hiện nay.


Điểm mạnh của giải pháp này là: kết hợp các công nghệ mới nhất (Ubuntu, nguồn mở, đám mây điện toán) với các công nghệ lâu năm, ổn định (Lotus Notes/Domino), có support từ các hãng lớn, giá rẻ, dùng được máy hiện có không phải nâng cấp phần cứng.


Riêng Lotus Symphony thì hơi nghi ngờ: giao diện mới, hiện đại nhưng phần lõi lại dựa trên những phiên bản OpenOffice cũ (xem thêm tại đây).


Thị trường Mỹ là thị trường tuân thủ nghiêm ngặt luật bản quyền. Vì vậy các tổ chức hiện đang dùng Windows XP đứng trước những lựa chọn khó khăn khi Windows 7 ra đời và Windows XP không còn được hỗ trợ nữa. Nếu tiếp tục dùng Windows, họ buộc phải nâng cấp phần mềm và cả phần cứng để chạy được phần mềm đó. Theo IBM, các nhà nghiên cứu thị trường độc lập đã ước tính để chuyển sang Windows 7, mỗi user phải mất tới 2000 USD ?!


Theo IBM, tổng chi phí sở hữu ICSW (tính cả phần máy chủ cho các phần mềm cộng tác) chỉ bằng một nửa phần mềm Microsoft và không phải nâng cấp máy. IBM có đưa ra một bảng tính chi tiết tổng chi phí sở hữu (phải đăng ký mới đọc được), sau 5 năm, số tiền tiết kiệm được lên tới hơn 2 triệu USD! (cách tính chưa tìm hiểu được).


File cài đặt (Ubuntu 8.04 + các phần mềm của IBM nói trên) có thể tải về từ đây. File này lớn tới 1,08GB nên phải burn vào đĩa DVD.


Tôi sẽ cài thử và review sau. (xem thêm ở đây)





10/9/09

Ubuntu 9.10 beta (tiếp theo)

Cuối cùng cũng bắt được cô nàng Ubuntu 9.10 vào khuôn vào phép.
Bootloader:
Ubuntu 9.10 dùng trình bootloader Grub2, được xem là tiên tiến hơn Grub1 hiện vẫn đang phổ biến. Nhưng khi cài trên một ổ cứng có nhiều bản Linux, Grub2 chỉ nhận tốt các đồng hương cùng làng như Linux Mint, gOS, ...(cùng họ Ubuntu) và chọn boot được các bản Linux đó từ bootmenu của Grub2. Còn Mandriva, PCLinuxOS, ... có xuất hiện trong bootmenu nhưng không boot được. Tôi dùng cách sau:
Sau khi cài xong Ubuntu 9.10, boot lại máy từ một đĩa CD Mandriva. Mở terminal, lần lượt chạy các lệnh (để khôi phục bootloader của Mandriva đã cài trước đó):

  • su (để chuyển sang user root)

  • grub (vào trình grub)

  • find /boot/grub/stage1 (tìm các bootmenu)

  • root (hd0,x) (trong đó hd0 là ổ cứng cài Mandriva, x là partition cài Man, nếu cài trên partition 5 -/dev/sda5 thì x=4)

  • setup (hd0) (cài lại bootloader)

  • quit (ra khỏi grub)

  • cũng có thể làm nhanh hơn bằng một lệnh grub-install /dev/sda nhưng tôi chưa thử.


Khởi động lại máy vào Mandriva. Trong màn hình Run command, chạy lệnh kdesu kwrite /dev/sda5/boot/grub/menu.lst để mở file menu.lst của Mandriva. Thêm vào file đó ba dòng sau:
title Ubuntu 9.10
root        (hd0,x)
kernel    /boot/grub/core.img


(trong đó (hd0,x) là partition cài Ubuntu 9.10)
Save file lại rồi boot lại máy từ ổ cứng. Khi bootmenu của Man xuất hiện, chọn dòng Ubuntu 9.10 rồi Enter để vào Ubuntu. Mandriva nhận tốt các bản Linux khác nên dùng bootmenu của nó boot được các bản đó. Chưa thử trường hợp cài Ubuntu 9.10 trước rồi mới cài Mandriva xem có nhận được Ubuntu 9.10 không.
Bộ gõ tiếng Việt:
Ubuntu 9.10 cài sẵn bộ gõ ibus, được xem là đời sau của scim chắc là có nhiều cải tiến hơn. Kích hoạt ibus bằng cách vào System -> Administration -> Language Support rồi trong màn hình đó chọn ibus ở mục Keyboard input method system. Sau đó đóng màn hình lại.
Tác giả Lê Quốc Tuấn và cộng đồng ubuntu Vietnam đã phát triển được bộ gõ tiếng Việt ibus-unikey 0.3 (Thank you very much). Theo hướng dẫn ở đây để cài (add kho launchpad theo hướng dẫn ở đây, rồi cài bằng Synaptic. Tôi tải file deb về cài bằng GDebi bị báo lỗi dpkg: unable to read filedescriptor flag).
UPDATE:Thử sơ qua, bộ gõ này hoạt động tốt. Bộ gõ ibus-unikey có một nhược điểm chung của scim và ibus là phải có phím kết thúc từ. Nếu không đang gõ dở, chuyển con trỏ đi nơi khác bị mất một số ký tự đã gõ.

Tôi cài lại scim và scim-unikey nhưng hơi phức tạp hơn Ubuntu 9.04. Sẽ trình bày cách cài trong một post riêng.
Đặt IP tĩnh cho card mạng:
Dùng Network Manager Applet trên panel không đặt được. Phải mở file /etc/network/interfaces.
Mount các partition khác:
Ubuntu 9.10 có một phần mềm Palimpsets (Administration -> Disk Utility) nhưng không mount vĩnh viễn (sửa file fstab được). Tốt nhất là cài thêm pysdm (rồi chạy từ Administration -> Storage Device Manager) để mount một lần cho xong.
Ổ cứng online:
Lần này, Ubuntu có thêm một dịch vụ mới là Ubuntu One (Applications -> Internet -> Ubuntu One) cung cấp 2GB ổ cứng online miễn phí theo kiểu Dropbox đã giới thiệu ở đây. Cái dở là chỉ có cho Ubuntu, trong khi Dropbox dùng được cho cả Windows và các hệ Linux khác. Tuy nhiên, cài Dropbox không phải bao giờ cũng trơn tru ngay, nhiều khi phải cài đi cài lại, khởi động lại máy. Nhưng khi đã chạy, Dropbox hoạt động rất tốt: tốc độ download và upload khá nhanh, rất nhạy với mọi thay đổi của file mà nó quản (đang mở file để sửa, chỉ cần nhấn nút Save, chưa đóng file đã thấy Dropbox hoạt động rồi).
Linh tinh:
Thời gian khởi động nhanh nhưng thời gian load grub2 lại lâu hơn grub1
Có một phần mềm chat mới là Empathy, chat được trên nhiều hệ thống chat khác nhau, nhưng chỉ thuần túy text chat, không có voice và video.

Thay cho Add Remove Programs, có Ubuntu Software Center (Applications -> Ubuntu Software Center). Phần mềm này giống mintInstall đã giới thiệu ở đây: tập hợp một số phần mềm ứng dụng, giới thiệu trước về công dụng tính năng và xem trước được nhiều thông tin nữa trước khi quyết định cài.

Menu hơi tiết kiệm, ví dụ một số phần mềm như Image Viewer(Eye for Gnome) và Document Viewer (Evince) không có trong menu Applications nhưng lại có trong menu con khi nhấn phím phải chuột vào một file ảnh.
Sơ bộ thế đã. Để 20 ngày nữa xem bản chính thức.

10/5/09

Trục trặc với Ubuntu 9.10 Beta

Vừa thử cài Ubuntu 9.10 Beta, gặp một số trục trặc:

  1. Trình cài đặt đã được viết lại một phần, trong quá trình cài có màn hình giới thiệu các tính năng chính (giống Windows) xem đỡ sốt ruột khi chờ đợi. Tuy nhiên, màn hình hiển thị các partition vẫn bị lỗi tràn ra ngoài màn hình do đó không nhìn thấy phím Next, phải dùng phím Tab để chuyển focus rồi Enter mò, không dùng chuột được (giống lỗi trong Ubuntu 9.04).

  2. Trình Network Manager không cài đặt được card mạng theo kiểu manual (đặt IP tĩnh bằng tay). Phải mở file /etc/network/interfaces để cài đặt card mạng. Lỗi này trong Ubuntu 9.04 và openSUSE cũng bị.

  3. Kết nối được Internet xong, cài được phần mềm từ repositories nhưng Firefox lại không vào các trang web được.

  4. Điểm dở nhất (đối với tôi) là Ubuntu 9.10 dùng trình bootloader Grub version 2 (Grub 2) thay cho Grub 1 mà các bản Linux hiện đang dùng (kể cả Ubuntu 9.04). Trình này nhận biết các bản Linux khác ngoài dòng Ubuntu (như Mandriva, PCLinuxOS, ...) rất kém, do đó boot menu do nó tạo ra không boot được các bản Linux nói trên. Thay cho file /boot/grub/menu.lst sửa rất dễ của Grub 1, Grub 2 dùng file /boot/grub/grub.cfg khá phức tạp, không cho sửa kể cả với quyền root.

  5. Khi khởi động, Grub 2 tải lâu hơn hẳn Grub 1, mặc dù sau đó quá trình khởi động của Ubuntu khá nhanh.


Vì đây chỉ là bản beta nên hy vọng là khoảng 20 ngày nữa sẽ khá hơn. Tôi thường cài vài bản Linux trên máy nên lỗi trên là khá khó chịu vì sau khi cài Ubuntu không boot được vào các bản khác.

10/4/09

Vài ấn tượng ban đầu với Mandriva 2010.0 KDE RC1 và Kubuntu 9.10 Beta

Cuối tháng 10 hai bản Linux mà tôi quan tâm sẽ ra đời phiên bản mới: Ubuntu 9.10 và Mandriva 2010.0. Sau đó ít lâu sẽ là các bản Linux Mint 8 (dựa trên Ubuntu) và PCLinuxOS 2010 (dựa trên Mandriva).
Mandriva 2010.0 RC1: hiện đã có bản RC1, đến 3/11 là bản chính thức.


  • Cài đặt trơn tru, không gặp trục trặc gì về nhận biết phần cứng (đã cài thử trên vài máy).

  • Dùng các phần mềm mới nhất: kernel 2.6.31, KDE 4.3, OpenOffice 3.1, Firefox 3.5.3. Đặc biệt, làm việc tốt với card màn hình Intel, không bị lỗi như bản 2009.1. KDE 4.3 đẹp, chạy nhanh, và nhiều tính năng hơn bản 4.2. KDE4 hiện có vẻ đã đủ độ chín.

  • Kernel 2.6.31 đã hỗ trợ chuẩn USB 3.0 tốc độ 5Gbits/s nhanh hơn 10 lần USB 2.0 hiện nay. Thiết bị hình như cũng đã bắt đầu có. Hiện tại, Linux là hệ điều hành đầu tiên hỗ trợ chuẩn này.

  • Gõ tiếng Việt tốt với scim-unikey 0.3.1 nhưng cài scim thì hơi trục trặc, không trơn tru như các bản Mandriva cũ. Hy vọng lỗi này sẽ hết trong bản chính thức.

  • Từ bản 2009.1, Mandriva có chế độ ghi file iso vào USB để cài, không cần burn vào đĩa CD nữa. Download file mandriva-seeds.sh tại đây (ở cuối danh sách), sau đó chạy file trong terminal và theo hướng dẫn. Khi cài chọn chế độ boot từ USB.

  • Vẫn như cũ, Mandriva ưu tiên cho các phần mềm khác đưa vào file cài đặt, nên muốn cài máy in phải tải về khoảng 280MB phần mềm nữa.

  • Dùng thử khoảng 1 tuần, chạy khá ổn, nhưng không nhận được máy in Canon 1210 (các đời trước nhận ngon kể cả khi chưa có driver CAPT).



Kubuntu 9.10 Beta:


  • Trình cài đặt mới, đẹp hơn và dễ nhìn các partition hơn bản cũ.

  • Cũng dùng các phần mềm mới nhất KDE 4.3.1, OpenOffice 3.1.1. Riêng trình duyệt mặc định vẫn là Konqueror, nhưng có thể cài thêm Firefox. KDE4.3 chạy khá nhuyễn không như các bản Kubuntu trước. Đặc biệt có sẵn một số Plasma Widget kết nối với Google Calendar, Flick, Facbook, Twitter,...

  • Tích hợp với bộ công cụ GTK+ nên các ứng dụng GNOME có giao diện giống KDE hơn và tùy biến được.

  • Thử cài trên notebook được, nhưng trên hai máy để bàn thì thua: một máy không boot được vào chế độ LiveCD, một máy thì ngừng ở chổ copy package list. Hai máy này cài Mandriva 2010.0 RC1 đều được. Để khi có bản chính thức thử lại xem sao.

9/6/09

Cài máy in Canon trong Madriva 2009.1 và Ubuntu 9.04

Khi cài máy in Canon LBP 2900 trong Mandriva 2009.1 và Ubuntu 9.04 theo các hướng dẫn tại đây và tại đây thì có vài trục trặc nhỏ:

  1. Với Mandriva 2009.1: Phải bật máy in trước khi bật máy tính mới in được.

  2. Với Ubuntu 9.04: trước khi in, mở terminal chạy lệnh sudo /etc/init.d/ccpd restart mới in được.


Không rõ các máy in Canon khác dùng CAPT driver có bị như vậy không? Các hướng dẫn nói trên viết cho trường hợp máy in LBP 1210 (cũng dùng CAPT driver) với các phiên bản trước của Mandriva và Ubuntu không thấy có lỗi này.

8/18/09

Lại card màn hình Intel

Trong một post trước có nói về vấn đề mà card màn hình Intel (một số, không phải tất cả) đang gặp với các công nghệ đồ họa mới mà driver chưa tìm được giải pháp tối ưu.

Điều này xảy ra với các hệ Linux đời mới nói chung, không riêng gì Ubuntu. Ví dụ Mandriva 2009.1 khi cài trên máy có card màn hình onboard Intel 82G33/G31 sẽ gặp lỗi "rendering": khi nhấn vào các menu, cửa sổ, màn hình của menu hoặc cửa sổ đó thoạt đầu hiện lên vạch ngang lằng nhằng, một lúc mới hiện lên đầy đủ.

Mỗi bản Linux đều có trang liệt kê các lỗi đã gặp mà tới lúc phát hành vẫn chưa sửa được và nêu cách sửa tạm. Ubuntu nêu các lỗi đó trong trang Release Note, Mandriva thì đặt ở trang Errata.

Hai trang đó đều nêu cách chữa lỗi nói trên như sau (nhưng không đảm bảo là mọi trường hợp đều chữa được):

Mở file /etc/X11/xorg.conf với quyền root rồi thêm vào bên dưới dòng "Device Intel" một dòng sau:
Option "AccelMethod" "UXA"

Với Mandriva 2009.1, sau khi sửa như trên, khởi động lại máy thì hết lỗi nhòe cửa sổ. Ngoài ra để tăng tốc đồ họa có thể thêm các dòng sau:

Option "MigrationHeuristic" "greedy"

Option "DRI" "off"

(tắt DRI sẽ tắt các hiệu ứng màn hình).

Trước vẫn biết là có các trang báo lỗi như trên nhưng quên không xem. Có lỗi gì, xem trang đó trước tiên là hay nhất.

8/9/09

Hậu cung của nhà vua

(Nghỉ cuối tuần mà trời nóng quá, ngại ra đường nên ngồi nhà nổi máu văn chương)

Sau khi đã lập xong hậu cung và trở thành một cao thủ trong tình trường Linux, đức Hoàng thượng rùng mình nghĩ lại thời mình còn lẽo đẽo đi theo bà Hoàng hậu già Windows khó tính, bệnh tật virus đầy người, hơi một tý lại lăn ra ngất. Nói cho công bằng, không có bà dìu dắt, Người cũng chẳng có ngày hôm nay. Bây giờ, Người ngạc nhiên nhìn lũ trai trẻ trong vương quốc cam tâm cúc cung tận tụy với Windows mà không biết rằng cả một chân trời mới đang ở ngay bên cạnh. Bởi vậy, Người mới quyết định giới thiệu hậu cung của mình để làm gương.

Và cũng bởi Người bắt đầu thấy nhàm rồi, đang tiến quân đi chinh phục những vùng đất mới.

Nước nhỏ và nghèo nên hậu cung xây trên một miếng đất khá chật: notebook Dell INSPIRON 700m với CPU Pentium M 1.6MHz, 1.256 GB RAM, 40 GB HDD, 82852/855GM Intel Integrated Graphics Device.

Đất hẹp nên mỗi quý phi chỉ được có khoảng 4-5 GB ext3 partition và có một phòng sinh hoạt chung My Documents (ntfs partition, 10 GB) thừa hưởng lại của hoàng hậu Windows XP đã quá cố (xóa sạch rồi chỉ còn lại có My Documents) và cái sảnh swap partition 500 MB cũng dùng chung nốt. Menu list là cái danh sách quyết định cô nào được ân sủng vua vời sẽ nói sau.

Mandriva 2009.1 KDE


snapshot1



Cô này vốn xuất thân từ một dòng họ quý tộc lâu đời (Mandrake 1.0, 7/1998). Cái tính quý tộc thể hiện từ hình thức đến nội dung. Mọi sinh hoạt đều tuân thủ theo nề nếp gia phong của Control Center và System Settings rất đầy đủ, chặt chẽ, rõ ràng, có lớp có lang từng bước một (wizard). Riêng cái nề nếp đó chưa có cô nào theo kịp, kể cả openSUSE. Bảo cô làm việc gì cũng dễ dàng và ngoan ngoãn.

Bộ áo KDE 4.2 cô đang diện vốn là một bộ áo thời thượng nhất, đẹp nhất hiện nay nhưng cũng khó mặc nhất. Nhiều cô khác cũng cố khoác nó lên người nhưng rồi phải bỏ hoặc lụng thụng trông chẳng ra sao (Kubuntu chẳng hạn). Mandriva hòa nhập với KDE4 nhuần nhuyễn và có bản sắc riêng từ cái màn hình khởi động (splash) đến screensaver và nhiều tiểu tiết khác được may cắt riêng chứ không dùng cái có sẵn của KDE.

Nhìn sâu hơn thì cô thuộc loại quý tộc không nghèo nhưng cũng không phải là giầu. Các kho của hồi môn (repositories) khá lớn nhưng chưa bằng được một số cô khác. Và bố trí bên trong cũng hơi lộn xộn.

Tuy dòng dõi cao sang nhưng Mandriva nổi tiếng bình dân. Đặt vào đâu cô cũng hòa nhập rất tốt, không kén cá chọn canh gì (tương thích phần cứng tốt). Chỉ có đến đời 2009.1 này là thấy có chuyện. Cô sống rất thoải mái, nhanh nhạy với cái card màn hình Intel 82852/855GM, nhưng đưa sang chỗ khác có card  82G33/G31 cũng của Intel là chậm chạp hẳn. Đời trước 2009.0 thì lại không sao. Nguyên nhân có lẽ do cái driver Intel mới nhất hiện còn chưa ổn như đã nói trong một post trước.

Mandriva còn có một cô em diện áo GNOME, không xinh bằng chị nhưng nhìn thoáng hơn, nhanh nhẹn hơn vì bớt cầu kỳ. Hoa thơm đánh cả cụm nhưng đất chật đành cho hai cô ở chung một phòng (Install & Remove sofware -> Meta package -> GNOME -> task-gnome-minimal thế là xong). Thích ngắm cô nào thì ở cửa ra vào (màn hình Log in), nhấn vào hình quyển sổ bút chì đăng ký gặp cô đó. Hình cô em đây:

snapshot


Nếu để ý trên hình sẽ thấy, mặc dù cô em khoác áo GNOME nhưng vẫn dùng được đồ KDE của chị (Kontact) và ngược lại. Như thế hay hơn là chỉ có một thứ.


Đức vua hiện nay sủng ái cô chị Mandriva nhất. Hồi mới lập hậu cung, nghe thiên hạ đồn thổi người vời Ubuntu đầu tiên nhưng rồi chê vì hình thức màu mè xấu quá (hồi đó bản lĩnh người còn thấp chưa biết mua sắm trang điểm cho quý phi). Tiếp sau, có thời người sủng ái Kubuntu vì có nhiều nét hao hao giống hoàng hậu Windows. Bây giờ Mandriva với nền nếp gia phong dễ bảo lại xinh đẹp thì vượt lên không có gì là lạ.


Còn sau này thì chưa biết.



Ubuntu 9.04


snapshot1


Ubuntu là con gái nhà giàu mới nổi. Bố cô sau khi quăng một đống tiền đi du lịch vũ trụ về mới sinh ra cô. Tài kinh doanh, tổ chức của bố, tiền của bố và một chiến dịch lăng xê ngoạn mục đã làm cho Ubuntu nhanh chóng nổi như cồn. Chính nhà vua khi mới lập hậu cung cũng nghe đến tên Ubuntu đầu tiên. Đến bây giờ những kẻ chết mê chết mệt cô đông vô kể và đó chính là sức mạnh vô địch của cô. KDE 4.3 mới ra đời có mấy hôm đã có kẻ dâng lên cô rồi là một ví dụ. Đội ngũ fan người Việt cũng khá đông đảo và có một diễn đàn riêng (www.ubuntu-vn.org), cần gì lên đấy mà hỏi. Đó cũng là thế mạnh của Ubuntu ở cái xứ sở còn sơ khai về opensource này.


Kho của hồi môn (repositories) của Ubuntu thừa kế từ cụ bà Debian và bổ xung liên tục đứng vào hàng nhất nhì thiên hạ. Ngay kho Việt nam cũng được chăm sóc cẩn thận hơn các cô khác. Khi đức vua nổi máu phiêu lưu muốn thử cái mới, bao giờ người cũng dùng Ubuntu. Gia đình giàu có, đội ngũ fan đông đảo, thông tin tràn lan trên Internet, Ubuntu dễ dàng giải quyết được những việc mới đề ra.


Con gái nhà giàu mới lớn nên hơi khó bảo so với Mandriva. Có nhiều việc tề gia nội trợ bình thường, Mandriva có sẵn công cụ làm êm ru thì Ubuntu phải tìm kiếm cách làm, cài thêm công cụ,... hết hơi. Mặt khác vì là tầng lớp thượng lưu nên hay sợ điều tiếng, những cái gì không phải opensource là không dùng, báo hại người dùng phải tự bổ xung hơi bị mệt. Nhưng về lâu dài, tiềm năng của Ubuntu là vô địch và tương lai chắc còn sáng lạn.


Cô em Kubuntu khoác bộ cánh KDE4 lộng lẫy cũng được cho ở chung với chị (System -> Administration -> Synaptic Package Manage rồi tìm cài kubuntu-desktop). Nếu muốn diện bộ áo mới nhất KDE 4.3 (vừa may xong hôm 4/8/2009) thì theo hướng dẫn ở đây. hoặc ở đây. Mặc áo xong, ra khỏi phòng (log out) rồi trước khi vào lại, ở màn hình Log in nhấn vào Options -> Sessions để chọn. Kubuntu mặc áo KDE4 không được nhuyễn như Mandriva. Dung nhan Kubuntu 9.04 với KDE 4.3 như thế này:


snapshot2


Sống chung nên hai cô có thể dùng lẫn đồ của nhau. Ubuntu có thể dùng Kontact viết cho KDE và ngược lại Kubuntu cũng dùng được Brasero vốn viết cho GNOME. Thực ra cái đó không phải là mới. Thời các cụ tổ Red Hat (còn miễn phí) và Mandrake, bộ CD cài có 5-6 đĩa, cài xong là có cả KDE và GNOME cùng một đống phần mềm hỗn hợp. Bắt đầu từ Ubuntu nhằm mục đích phổ biến cho nhanh, mọi thứ được co gọn lại về bộ cài một đĩa CD mới có sự phân biệt như ngày nay.



Linux Mint 7


Screenshot


Trong 12 tháng qua (và kể cả trước đây), Linux Mint luôn đứng trong TOP 5 Người đẹp Linux Hoàn vũ. Về cô này đã có bài chi tiết trước đây. Khi cần giới thiệu người đẹp Linux với một người mới (bạn bè, người thân) đưa cô này ra là tiện nhất vì các lý do sau:




  • Mất độ 20 phút cài vào ổ cứng là xong. Hầu như không phải cài thêm gì (trừ bộ gõ tiếng Việt). Ubuntu và Mandriva phải cài bổ xung nhiều. Linux Mint con nhà bình dân không thượng lưu như Mandriva và Ubuntu nên không câu nệ tiểu tiết hay nói đúng hơn là không sợ điều tiếng. Cái gì cần là có không phân biệt cái đó có thuộc đẳng cấp mình (opensource) hay đẳng cấp khác (proprietary).

  • Giao diện nhẹ (GNOME) phù hợp với mọi cấu hình máy, thoáng, đẹp và menu dễ dùng.

  • Linux Mint cũng họ nhà Ubuntu. Do đó thừa hưởng được mọi ưu thế (và cả nhược điểm) của Ubuntu như đã nêu ở trên, nhất là phần hướng dẫn tiếng Việt cho người mới học. Mặt khác vì sinh sau nên Linux Mint có những phần bổ xung mà Ubuntu không có.


PCLinuxOS 2009.2


PCLinuxOS năm ngoái liên tục đứng trong TOP 5 Người đẹp Linux Hoàn vũ. Năm nay thì tụt hạng còn có thứ 7 nhưng vẫn còn có hạng. Con nhà nghèo (nhóm phát triển hoàn toàn là tình nguyện), bố mẹ lại lục đục nên cô chịu nhiều thiệt thòi. PCLinuxOS thuộc họ nhà Mandriva nên cũng thừa hưởng được nền nếp gia phong vốn có (Administration Center).

snapshot1


PCLinuxOS 2009.2 vẫn giữ nguyên bộ áo KDE3. KDE3 nhẹ hơn KDE4 dù không lộng lẫy bằng nhưng phát triển lâu nên khá chín, nhiều công cụ tiện ích bổ xung và chạy cũng nhanh hơn. PCLinuxOS cũng như Linux Mint có tính thực dụng cao nên cái gì cần là có và có khá nhiều tiện ích.


PCLinuxOS có một bộ cánh GNOME khá độc đáo như thế này (cái theme này chắc cài được lên các bản GNOME khác):


Screenshot


Tuy nhiên hai cô này hơi khó ghép ở chung với nhau.


Một trong những điểm chơi trội gần đây của PCLinuxOS là bản Firefox 3.5 vừa ra đời chỉ ít lâu sau đã được chính thức đươưa vào kho và tự động upgrade được. Các cô khác còn đang ngắm nghía, thử nên nếu muốn phải tự cài riêng từ ngoài vào.


Thực tình trước đây openSUSE, Fedora, Debian, Mepis, DreamLinux, Knopix,... và thậm chí cả openSolaris cũng đã lần luợt đi qua hậu cung này. openSUSE dung nhan không có gì đặc biệt, nề nếp gia phong rất bài bản nhưng lại quá rắc rối khắt khe, Fedora và Debian dòng dõi lâu đời nhưng không có gì nổi bật đối với người dùng bình thường, Solaris là một nhánh trực hệ của cụ cố Unix, khó tính khó nết không chịu sống chung với các cô khác nên đều bị loại. Bởi vì mục đích lập hậu cung là thực dụng, không phải nghiên cứu.


Những lúc vui đùa với đám mỹ nữ này, coi khinh các loại virus, nghĩ đến những kẻ đang mê muội bám đuôi bà lão Window mà thấy thương và ái ngại.


(còn tiếp, nếu trời còn nóng).