7/18/09

Vài thủ thuật hay

Tình cờ tìm được vài thủ thuật hay tại site http://tips4Linux.com.

Xem thông số RAM


Chạy lệnh sau trong terminal: sudo dmidecode -t memory sẽ cho biết nhiều thông số về RAM. Tương tự, thay memory bằng bios, processor, system, v.v.... Để biết chi tiết về lệnh này gõ man demidecode.

Hoặc gõ một lần sudo dmidecode | more để xem toàn bộ các thông số bios. Với Mandriva, không cần sudo nhưng trước đó phải chuyển sang user root bằng lệnh su.

Lệnh lshw cũng liệt kê các thông số phần cứng. Ví dụ lshw -c memory liệt kê tất cả các loại ram trong máy (bios firmware, cache của bộ xử lý, RAM).

Kiểm tra trạng thái pin của laptop


a/ Thông số pin

Lệnh: grep -F : /proc/acpi/battery/BAT0/info
Kết quả tương tự như sau:

present:                              yes
design capacity:                2200 mAh
last full capacity:               2200 mAh
battery technology:           rechargeable
design voltage:                  14800 mV
design capacity warning:   66 mAh
design capacity low:           66 mAh
capacity granularity 1:       10 mAh
capacity granularity 2:       2134 mAh
model number:                    Bat 4Cell
serial number:                     236
battery type:                      Lion
OEM info:

b/Trạng thái pin:

user@laptop:~$ acpi -t
Battery 0: Full, 100%
Thermal 0: ok, 44.5 degrees C
user@laptop:~$ acpi -V
Battery 0: Full, 100%
AC Adapter 0: on-line
Thermal 0: ok, 41.5 degrees C
Cooling 0: Processor 0 of 10
Cooling 1: Processor 0 of 10

Khôi phục boot menu sau khi cài lại Windows


Khi trên máy đã cài Windows, cài thêm Linux thì Linux sẽ tạo boot menu để chọn khởi động vào Windows hay Linux. Nếu sau đó phải cài lại Windows, boot menu sẽ mất và chỉ còn khởi động thẳng vào Windows mà không vào Linux được nữa. Để khôi phục lại boot menu làm như sau:

  1. Boot máy bằng đĩa cài Linux vào chế độ LiveCD.

  2. Khi đã khởi động xong Linux, mở terminal rồi chạy lệnh su để chuyển sang user root (Mandriva), Ubuntu thì không cần.

  3. Chạy lệnh grub (Mandriva) hoặc sudo grub (Ubuntu).

  4. Tại dấu nhắc grub> gõ lệnh find /boot/grub/stage1
    rồi Enter

  5. Danh sách các partition có cài Linux xuất hiện. Nếu chỉ có một bản Linux: (hd0,x), x=1,2, ..., nếu có nhiều bản: (hd0,2), (hd0,4), ... Chú ý là trong danh sách không có các partition không cài Linux.

  6. Gõ tiếp lệnh root  (hd0,x) trong đó x=1, 2, ... rồi Enter

  7. setup (hd0) (Enter)

  8. quit (Enter)

  9. Khởi động lại máy, lấy đĩa CD ra để boot bằng ổ cứng. Xong.

7/7/09

Peazip - một trình nén và giải nén hay

Hay bởi vì peazip không chỉ nén và giải nén được vô số loại file mà còn có nhiều tính năng khác.

peazip1Nén và giải nén được các loại file:

Giải nén được các loại file:

ACE, ARJ, CAB, CHM, COMPOUND (MSI, DOC, XLS, PPT), CPIO, ISO, Java (JAR, EAR, WAR), Linux (DEB, PET/PUP, RPM, SLP), LHA/LZH, LZMA, Mac (DMG/HFS), NSIS, Open Office files, PAK/PK3/PK4, RAR, SMZIP, U3P, UDF, VHD, WIM, XAR, XPI, XZ, Z/TZ


Tổng cộng hỗ trợ 87 kiểu file nén khác nhau.

Tạo được file nén tự giải (self-extracting).

Tạo và giải nén nhiều file cùng một lúc.

Có các bản cài (installable) chạy được trên Windows 32, 64 bit và trên Linux. Có cả bản không cần cài (portable) để chạy trên usb, ... Giao diện trong mọi trường hợp trên đều giống nhau.

Có một số tính năng xử lý file (hình dưới)

  • peazip2Chia một file lớn thành nhiều phần hoặc nối các phần đã chia thành một file (Splite/Join files).

  • So sánh các file với nhau (Compare files)

  • Tạo số kiểm tra file (Checksum/hash files)

  • Xóa vĩnh viễn file, không undelete, recovery được (Secure delete)


Bảo mật file nén bằng password, mã hóa nội dung file bằng password hoặc bằng cả password và key file (có chức năng tạo password ngẫu nhiên).

Trang chủ và download tại đây. Có tài liệu hướng dẫn sử dụng chi tiết (pdf).

Nhược điểm:

Khi cài xong, nhấn phím phải chuột vào một file nén, các menu cũ (Extract Here, Extract To...) bị mất, thay vào là các lệnh của Peazip. Khi nhấn phím phải chuột vào một file nén của Linux dạng tar.gz hoặc tar.bz rồi chọn Extract here (Peazip) thì không giải nén hết ngay: đầu tiên giải nén thành file tar, sau đó phải Extract here lần nữa mới thành các file gốc.

Lâu ngày không dùng Winzip, không nhớ các tính năng để so sánh. Tuy nhiên có một ưu điểm: Peazip là phần mềm nguồn mở nên cài vô tư lên Windows, không cần crack như Winzip.

6/25/09

Chín bộ themes đẹp của Ubuntu

Chín bộ themes đẹp dưới đây dành cho Ubuntu Intrepid và Jaunty được giới thiệu tại Zgegblog . Cách cài như sau:
(cách cài dưới đây dùng lệnh chạy trong Terminal. Copy các lệnh ở đây rồi paste vào terminal cho nhanh và đỡ nhầm. Cũng có thể cài bằng Synaptic Package Manager).

Thử cài lên Linux Mint không được vì phải gỡ một số phần cơ bản của Mint.



Đầu tiên add repo chứa themes bằng cách sửa file /etc/apt/sources.list
sudo gedit /etc/apt/sources.list

thêm hai dòng sau vào cuối file:

Với Ubuntu Jaunty:
deb http://ppa.launchpad.net/bisigi/ppa/ubuntu jaunty main
deb-src http://ppa.launchpad.net/bisigi/ppa/ubuntu jaunty main

Với Ubuntu Intrepid cũng hai dòng trên thay từ "jaunty" bằng "intrepid"

Save rồi đóng màn hình gedit.

Add khóa GPG của kho phần mềm trên bằng lệnh sau:


sudo apt-key adv --recv-keys --keyserver keyserver.ubuntu.com 0x1781bd45c4c3275a34bb6aec6e871c4a881574de

(nếu lệnh này bị lỗi cũng không sao vì quá trình cài tiếp theo vẫn thực hiện được)

Cập nhật danh sách phần mềm bằng lệnh:
sudo aptitude update

Cài toàn bộ các themes bằng lệnh:
sudo aptitude install zgegblog-themes

Chú ý là dung lượng tải về khoảng 180MB và tốc độ tải từ kho launchpad khá chậm.

Khi cài xong, nhấn vào menu System -> Preferences -> Appearance rồi chọn trong tab Themes.

Ảnh mẫu các themes như sau:


Showtime for Gnome

1


Balanzan

balanzan_pres


Infinity

infinity-pres


Wild shine

wild-pres


Exotic

exotic


Tropical

tropical-prsentation


Bamboo Zen

bamboo-prs


Ubuntu sunrise

ubuntu_presentation


Aqua Dreams

expose

Có thể cài riêng từng themes bằng các lệnh:

sudo aptitude install showtime-theme


sudo aptitude install balanzan-theme


sudo aptitude install infinity-theme


sudo aptitude install wild-shine-theme


sudo aptitude install exotic-theme


sudo aptitude install tropical-theme


sudo aptitude install bamboo-zen-theme


sudo aptitude install ubuntu-sunrise-theme


sudo aptitude install  aquadreams-theme



Gỡ bỏ các Themes

Gỡ bỏ toàn bộ các themes trên bằng lệnh:
sudo aptitude remove zgegblog-themes

Hoặc gỡ bỏ từng themes bằng lệnh:
sudo aptitude remove themename

trong đó themename là tên themes đã nêu ở trên.

6/24/09

Hai kiểu link giữa các file OpenOffice Calc

Giả sử ta có một file bảng tính gốc test2.odt với các ô từ B2-B5 có dữ liệu như sau:

test2Ta muốn copy các dữ liệu này sang một bảng tính khác test1.odt sao cho khi các dữ liệu trong hình trên ở file test2 thay đổi thì các dữ liệu tương ứng ở test1 cũng thay đổi.

Cũng giống như trong Excel, có hai cách làm:

Cách 1: Mở cả hai file, trong file test1, đánh dấu = vào ô đầu tiên muốn copy rồi chuyển sang file test2 nhấn vào ô B1 rồi Enter. Quay về test1, ô đầu tiên đã được copy, rê chuột kéo xuống các ô dưới, màn hình như sau:

test3Chú ý thanh công thức, công thức link ở đây là ='file:///home/zxc/test2.ods'#$Sheet1.B2

Cách 2: Mở cả hai file. Trong file test2, bôi đen các ô định copy rồi nhấn nút Copy trên toolbar. Chuyển sang file test1, nhấn chuột vào ô đầu tiên định copy rồi nhấn menu Edit -> Paste Special. Trong màn hình xuất hiện  đánh dấu chọn mục Link rồi OK. Màn hình như sau:

test4Chú ý thanh công thức, công thức khác với cách trên.

Đặc điểm:

Trong màn hình của file test1, nhấn vào menu Edit -> Links ta có:

test5Trong màn hình trên có hai link. Link thứ nhất có Type=Document và Status=Manual là link của cách 1. Link thứ hai có Type=soffice và Status=Automatic là link của cách 2.



Theo cách 1 thì dữ liệu ở test1 không tự động thay đổi khi dữ liệu ở test2 thay đổi. Khi thay đổi dữ liệu ở test2 xong, phải nhấn nút Save rồi sang test1 mở màn hình Edit Links trên nhấn nút Update, dữ liệu trong test1 mới được cập nhật. Có khi phải nhấn vài lần Update dữ liệu mới cập nhật.

Theo cách 2, dữ liệu tự động cập nhật. Chỉ cần sửa dữ liệu trong test2 là dữ liệu trong test1 tự động sửa theo ngay.

Ngoài ra, theo cách 2, khi nhấn vào nút Modify có thể sửa được một vài thứ của link. Theo cách 1, nhấn nút Modify chỉ sửa được mỗi đường dẫn của file.

Còn một chỗ nữa để điều khiển update link. Nhấn vào menu Tools -> Options -> OpenOffice Calc -> General. Trong mục Updating có thể chọn cho link tự động update khi mở file, hỏi trước khi updat hoặc không bao giờ update.

Còn hai vấn đề nữa về link tôi chưa thử được vì không còn Windows trên máy. Bạn đọc tự thử:

1- Khi mở file test1 có chứa hai kiểu link nói trên bằng MS Excel thì Excel hiểu hai link đó thế nào?

2- Trong Excel, hai kiểu link trên có các đặc điểm giống như trên không?

6/7/09

Linux Mint 7 Gloria





Ngày 26/5/09, bản Linux Mint 7 tên mã Gloria ra đời. Có thể đánh giá vắn tắt đây là một bản Linux thành công, luôn đứng trong top đầu xếp hạng về mức độ quan tâm của site Distrowatch (căn cứ theo page hit). Dưới đây điểm qua các đặc điểm chính.

Trước hết, thành công của Linux Mint dựa trên thành công của Ubuntu. Linux Mint là một bản linux cộng đồng dựa trên nền Ubuntu 9.04, bổ xung thêm các tính năng hướng người dùng, thuận tiện hơn trong sử dụng. Ubuntu có hàng chục "con" với nhiều hướng phát triển khác nhau, nhưng Linux Mint là nổi nhất.

PCLinuxOS dựa trên nền Mandriva cũng là một bản linux "con" của Mandriva đi theo hướng tương tự, nhưng bản PCLinuxOS 2009.1 vừa rồi không thành công được như vậy dù số trình tiện ích có vẻ nhiều hơn.

Linux Mint 7 hiện là bản Linux có thể dùng cài nhanh cho bạn bè, người quen chưa dùng Linux. Sau khi cài chỉ cần cài thêm bộ gõ tiếng Việt scim-unikey, add một số font Windows, cài máy in là dùng ngay được và tương đối dầy đủ.




Linux Mint 7 "Gloria"

Phần mềm


Linux Mint dùng lại toàn bộ các kho phần mềm (repositories) của Ubuntu và bổ xung thêm một số kho riêng. Các phần mềm không phải nguồn mở nhưng cần thiết đều được cài sẵn (multimedia codecs, java, flash, zip, unrar, ...). Trong Ubuntu, những phần mềm này chỉ có sau khi cài ubuntu-restricted-extra hoặc perfectbuntu.
Các phần mềm ứng dụng cũng được chọn lọc tương đối đủ. Một ví dụ: một trong những phần mềm hay là Okular dùng xem và ghi chú file PDF (đã giới thiệu trong một post trước) mặc dù viết cho KDE4 nhưng cũng đã được cài sẵn trong Linux Mint.  Vì vậy cài xong chỉ cần bổ xung bộ gõ tiếng việt scim-unikey (cách cài giống như với Ubuntu 9.04) là dùng được ngay cho các nhu cầu văn phòng thông thường.
Trên site của FPT (http://mirror-fpt-telecom.fpt.net/ ), Linux Mint chỉ mới có vỏ (tên thư mục) mà không có ruột.

Menu chính


Menu chính (nhấn vào nút Menu ở góc trái bên dưới màn hình) là cải tiến lớn nhất trong phiên bản này. Hiện có hai dạng menu phổ biến: menu kiểu cổ điển của GNOME và KDE3, di chuột đến đâu hiện lên menu con đến đấy và menu kiểu "kick-off" mà một số bản Linux KDE4 hiện đang dùng (Mandriva, openSUSE), có thể phải kích đến ba lần chuột mới đến được chỗ cần (vì chỉ có một màn hình với một cột). Mỗi kiểu đều có cái hay cái dở riêng. Menu chính của Linux Mint tổ hợp được những cái hay của hai kiểu menu trên và bổ xung thêm một số tính năng.
Khi nhấn lần đầu vào nút Menu, menu chính hiện ra như hình dưới gồm hai cột. Cột bên trái có các thư mục hay truy cập và một số phần mềm, lệnh hệ thống. Cột bên phải là Favorites, các phần mềm hay dùng. Danh sách Favorites có thể thêm bớt tùy ý. Cũng có thể thêm cột thứ ba bên phải là Recent Documents để mở các tài liệu gần đây cho nhanh (nhấn chuột phải vào menu, chọn Preferences rồi chọn Show recent documents trong tab Options).



Nếu cần tìm các phần mềm khác thì nhấn All applications, cột bên phải sẽ chia thành hai cột gồm các nhóm ứng dụng và danh sách ứng dụng trong nhóm, di chuột đến tên nhóm nào hiện lên nhóm đó ở cột bên phải theo kiểu menu cổ điển nhưng trực quan hơn. Bên dưới tên mỗi phần mềm có một dòng mô tả ngắn (xem hình dưới).

Dưới đáy màn hình là Filter. Nếu không muốn di chuột tìm thì gõ vào đó vài từ trong tên ứng dụng để tìm.
Nếu ứng dụng cần tìm không có trong menu, tức là chưa được cài, sẽ xuất hiện cột Suggestions (đề xuất) như hình dưới.






Search portal sẽ dẫn bạn đến site phần mềm (www.linuxmint.com/software) để tìm. Search repositories sẽ tìm trong các kho phần mềm của Ubuntu và Linux Mint (đã được enable). Show package cho hiện các thông tin chi tiết về gói phần mềm (nếu có). Install package sẽ cài gói phần mềm đó nếu có sẵn trong các kho. Nói tóm lại menu chính sẽ kiêm một số chức năng của trình Package Manager.




Menu chính mặc định có thể mở bằng cặp phím Ctrl+Start (phím Start có logo của Microsoft còn gọi là Windows key. Trong linux phím này gọi là Super_L) và đóng lại bằng phím Start hoặc Esc. Có thể đặt phím khác tùy ý.

Software Manager


Ngoài trình quản lý các gói phần mềm (package manager) Synaptic như Ubuntu, Linux Mint có trình quản lý phần mềm riêng mintInstall cho phép tìm kiếm, xem xét trước khi cài các phần mềm ứng dụng hoàn chỉnh (trên menu là Software Manager).
Điểm mới lần này so với phiên bản Linux Mint 6: danh mục một số phần mềm phổ biến, hiện chưa cài (Featured applications), tự động hiển thị các thông tin và màn hình xem trước của phần mềm (xem hai hình dưới đây).











Nhấn vào ảnh màn hình (screenshot), ảnh sẽ được phóng to để xem kỹ hơn. Khi nhấn nút More Info, màn hình sau xuất hiện cho biết khá chi tiết về phần mềm.



Tóm lại Software Manager giống như một cửa hàng, vừa giới thiệu các loại hàng bán chạy (featurred applications), vừa cho xem kỹ hàng cả về hình thức lẫn các thông tin chi tiết trước khi chọn mua (cài đặt lên máy).




Một vài cải tiến khác


Firefox được cài sẵn Moonlight plugin, phiên bản nguồn mở của Microsoft Silverlight. Tuy nhiên hiện Moonlight chỉ mới đến bản 1.0 do đó ví dụ chưa xem được site media của báo Thanh niên (dùng Silverlight 2.0). Hiện cũng đã có bản Moonlight 2.0 Preview nhưng chưa được tốt.

Các file multimedia nhúng trong Firefox xem bằng gecko-mediaplayer plugin (đã cài sẵn). Plugin này khá hơn mozila-mplayer là khung hình giữ nguyên vị trí trong trang web. Ví dụ khi xem trang media của báo Tuổi trẻ (media.tuoitre.com.vn), nhấn chuột phải vào thanh điều khiển, chọn Preferences rồi Video output chọn gl, Audio output chọn alsa sẽ xem được. Trước đây dùng mozilla-mplayer thì xuất hiện màn ảnh phụ, giao diện cũng kém hơn.

Bổ xung thêm lệnh inxi chạy trong terminal cho biết khá nhiều thông tin hệ thống (xem hình dưới)


Screenshot-Terminal


Tính năng power management chạy khá tốt. Để laptop chạy không một thời gian định trước, Linux Mint tự động suspend to ram (hoặc disk) và khi nhấn nút Power khôi phục lại trạng thái cũ trơn tru.
Sau một thời gian dùng thử, Linux Mint chạy khá ổn định.
Chỉ có bộ gõ tiếng Việt scim-unikey đôi khi bị đơ không gõ được trong Firefox. Khởi động lại Firefox thì lại gõ được.
Control Center cũng giống Ubuntu và thua xa Mandriva về khả năng cấu hình đơn giản, dễ dàng. Ví dụ cả Ubuntu và Mint đều cho phép người dùng bình thường mount các partition khác, nhưng mỗi lần khởi động phải nhấn nút vào biểu tượng partition trong Computer để mount lại. Muốn mount tự động (ví dụ với partition chứa My Documents của Windows) phải biết cách sửa file fstab. Mandriva có thể mount tạm thời hoặc vĩnh viễn bằng Local disk trong Control Center không cần dùng lệnh.
Nếu Ubuntu và Linux Mint kết hợp được Control Center của Mandriva thì hoàn chỉnh.


6/2/09

Viết công thức toán học trong OpenOffice Writer

Viết công thức toán học trong một văn bản là một điểm yếu của OpenOffice Writer so với WinWord. Mặc dù Writer có chức năng Insert -> Objects -> Formula gọi chương trình OpenOffice Math nhưng cách dựng công thức của Writer dùng một thứ ngôn ngữ lập trình của LaTex (trình soạn văn bản khoa học kỹ thuật) khá khó hiểu và phức tạp với người dùng bình thường.


Để dễ viết công thức hơn, có thể cài thêm extension Dmaths vào Writer (tải về tại đây). Giải nén file Dmaths32.zip thành thư mục Dmath32. Trong Writer, nhấn vào Tools -> Extension Manager -> Add rồi tìm đến file DmathsAddon.oxt trong thư mục Dmath32 để cài.


Khởi động lại Writer, thanh toolbar của Dmaths sẽ xuất hiện ở dạng floating. Tìm một ô nhỏ hình vuông có chữ D trên nền màu vàng, nhấn vào đó để tắt toolbar đi. Sau đó dùng chuột rê ô chữ D vào một vị trí trên toolbar chính của Writer. Nhấn lại vào chữ D, toolbar của Dmaths lại xuất hiện. Dùng chuột rê nó vào vị trí cố định bên dưới Format toolbar rồi nhấn nút D để tắt nó đi. Ngoài ra menu Dmaths cũng xuất hiện trên hàng menu.


Screenshot-1


Về bản chất, Dmaths cũng dựa trên ngôn ngữ dựng công thức sẵn có của Writer, chỉ đưa thêm vào các màn hình và hướng dẫn cho dễ làm hơn. Nhưng mức độ dễ dùng thì vẫn thua WinWord. Đây sẽ là một cản trở trong việc áp dụng OpenOffice vào ngành giáo dục. Các thầy cô dạy toán tiểu học hoặc trung học mà dùng được Writer để soạn bài hoặc ra bài tập cho học sinh sẽ vất vả hơn nhiều so với dùng WinWord.



Ví dụ: Viết công thức sau:

Screenshot


Nguyên tắc: viết từ ngoài vào trong. Trong ví dụ trên: đầu tiên viết hai dấu ngoặc nhọn, tiếp đến ký hiệu tổng, hai dấu ngoặc lớn, dấu phân số, hai dấu ngoặc của tử số, biểu thức trong tử số, hai dấu ngoặc mẫu số, biểu thức mẫu số. Xong.


Cụ thể:



Nhấn vào nút để bật Dmaths toolbar.
Trên thanh Dmath toolbar, nhấn vào nút  ta có màn hình sau:

Hai dấu ngoặc nhọn: Nhấn vào nút để nhập ngoặc nhọn ngòai cùng của biểu thức. Trên thanh nhập liệu sẽ xuất hiện các mã sau (không cần quan tâm):




Dấu tổng: nhấn chuột vào hàng Intergral/Sum/Product (Tích phân/Tổng/Tích) rồi nhấn vào nút Validate the selection, màn hình sau xuất hiện:

Đánh dấu chọn Enter a sum. Trong ô Variable, gõ vào i (mặc định là x), ô from nhập 10, ô to nhập 100, nhấn chuột chọn mục Enter a sum rồi nhấn nút Enter. Màn hình quay về như sau:

Hai dấu ngoặc lớn: trong màn hình trên, nhấn vào nút để mở hai dấu ngoặc lớn.
Phân số: nhấn chuột vào hàng chữ A fraction (phân số) ta có màn hình sau:

Ở ô tử số (Numerator) gõ vào (a+b+c) và mẫu số (Denominator), (d+e+f) như hình trên rồi nhấn Enter.
Trong màn hình tiếp theo nhấn nút Finish để kết thúc.




private:stream Page 1 of 1



5/25/09

KDE hay GNOME?

KDE và GNOME là hai môi trường đồ họa (graphic desktop environnent) phổ biến nhất của Linux nhưng cũng không phải là duy nhất. Ngoài ra còn có Xfce, Lxde, e17, ... khoảng một tá nữa. Thời mới làm quen với Linux, KDE gây được cảm tình hơn GNOME vì dạng giao diện gần Windows, có System Settings giống với Control Panel và màu xanh tươi mát của nó (hồi đó chưa biết cách tùy biến màn hình, cũng chưa biết bật Control Center của GNOME). Nhìn cái giao diện của Ubuntu 6.10 xấu tệ.

Vì vậy để tránh những phức tạp chưa cần thiết, nếu mới làm quen với Linux nên chọn KDE.

Sau này khi công lực thâm hậu rồi thì KDE hay GNOME chỉ còn là sở thích. Vì nói chung các phần mềm ứng dụng viết cho KDE vẫn cài chạy được trên GNOME và ngược lại.

Ví dụ đang dùng Ubuntu nhưng hay ghi đĩa CD thì nên cài k3b (viết cho KDE) có nhiều tính năng hay hơn là trình ghi đĩa brasero mặc định của GNOME. Ngược lại, trình System Monitor cùa GNOME nhiều thông tin hơn System Monitor của KDE v.v...

Cái hay của thế giới nguồn mở là khả năng tự do lựa chọn chỉ sau vài cú nhấp chuột. Những phần mềm cài sẵn theo một hệ Linux chưa chắc đã phải là cái hay nhất đối với từng người. Để chơi nhạc, Amarok, Songbird, SMplayer, VLC, .... ? thử cũng đủ mê mải rồi.

Đến hiện nay, GNOME (ví dụ Ubuntu) nên dùng để làm việc vì chạy nhanh, nhạy hơn so với KDE4, giao diện nguyên thủy tương đối chân phương giống như một anh công chức nghiêm chỉnh vậy. KDE nhất là KDE4 màu sắc điệu đà, rực rỡ nhưng chậm hơn, kém nhạy hơn, đòi hỏi cấu hình máy cao hơn. Tính năng thì cũng một chín một mười, KDE4 mới sinh nên còn chưa đủ độ chín.

Trước đây cứ phải tải về Ubuntu, Kubuntu, Mandriva KDE, Mandriva GNOME, ... rồi chia nhiều partition cài lần lượt từng bộ. Thực ra thì không cần phải thế.

Với Ubuntu, cài xong mở Synaptic cài thêm kubuntu-desktop (khoảng hơn 300MB) thậm chí cả xubuntu-desktop. Hoặc ngược lại cài Kubuntu xong, cài thêm ubuntu-desktop, v.v... Khi cài như vậy, không chỉ KDE, GNOME mà cả một số phần mềm ứng dụng phổ biến của môi trường đó cũng được cài. Ví dụ khi cài ubuntu-desktop thì trình thư điện tử Evolution cũng kèm theo. Nếu muốn cài riêng GNOME có thể dùng lệnh sudo apt-get install --no-install-recommends ubuntu-desktop.

Với Mandriva cài xong mở Install & Remove Software, chọn Meta Packages ở danh sách góc trên, bên trái màn hình, chọn tiếp Graphic Desktop thì sẽ có cả KDE3, KDE4, GNOME, Xfce, Enlightenment, Lxde, Ede để chọn. Mỗi gói có chữ task đằng trước, ví dụ task-gnome. Trong đó nếu chọn task-gnome-minimal thì chỉ cài tối thiểu GNOME, chọn task-gnome là cài đầy đủ các phần mềm kèm theo.

Cài xong logout ra, trong màn hình Login, nhấn vào biểu tượng bút chì (Mandriva) hoặc Options -> Select Session (Ubuntu) chọn GNOME, KDE, ... tùy ý. Sau đó nhập username, password là đăng nhập được vào môi trường đã chọn. Trong menu chương trình sẽ có thêm nhiều chương trình của các môi trường khác nhau. Ví dụ cài cả KDE và GNOME thì có cả KMail và Evolution. Nếu không thích, gỡ bỏ cả hai rồi cài Thunderbird (trình email chống spam tốt nhất hiện nay).

Cài như vậy, trên cùng một partition sẽ có cả ba bộ Ubuntu, Kubuntu và Xubuntu, thích login vào bộ nào cũng được.

Tóm lại cuối cùng ta sẽ có thế này:

  • Khi khởi động máy lên, xuất hiện boot menu có vài ba hệ Linux khác nhau để chọn (mỗi bộ mất khoảng 5GB, cách cài đã nói trong một post trước).

  • Chọn một hệ để khởi động vào, tới màn hình Login lại có vài ba lựa chọn môi trường đồ họa nữa. Thích chân phương đứng đắn thì chọn GNOME (nguyên bản), thích màu mè thì KDE4, thích nhanh, nhẹ (nhưng cũng không kém đẹp) hoặc máy cấu hình yếu thì chọn Xfce, Lxde, v.v...


Nhưng cái trò đó cũng chỉ để tìm hiểu khi còn đang khám phá, và cũng nên cẩn thận không dễ bị "tẩu hỏa nhập ma": cái nào cũng thích, cũng hay, loay hoay giữa đàn mỹ nữ không biết nên thiên vị cô nào. Nếu còn thích một bộ hơn bộ khác vì quen hơn, dễ dùng hơn là tu luyện chưa thành chính quả.

Khi công lực đã đạt đến hỏa hầu nhất định thì bộ Linux nào cũng không quan trọng nữa (nếu căn cứ trên nhu cầu sử dụng thông thường). Tất cả đều na ná giống nhau, có thể tùy biến, bổ xung cái mình thích. Vì về cơ bản các bộ phận để lắp ráp nên chúng đều là một: nhân Linux, môi trường đồ họa, các trình ứng dụng,.... Cài một bộ mới không khó khăn gì và mất thêm đôi chút thì giờ tìm hiểu những điểm khác biệt. Trong vài ba bộ phổ biến nhất, bộ nào cũng có cái hay, cái dở, xêm xêm như nhau.

Khi đã giang hồ hoa lá chán rồi thì sẽ dừng lại ở một nơi mà yên hưởng tuổi già. Lúc đó Linux chỉ còn là công cụ, không còn là đối tượng khám phá nữa. Tuy nhiên, nếu máu giang hồ chưa dứt thì vẫn còn cả thế giới nguồn mở mênh mông. Linux chỉ là một góc và là góc dễ khai phá nhất mà thôi.