7/20/09

Máy chủ Linux có độ sẵn sàng cao (High Availability Server)

High Availability có nghĩa là "Độ sẵn sàng cao", những máy chủ, thiết bị loại này luôn luôn sẵn sàng phục vụ, người sử dụng không cảm thấy nó bị trục trặc, hỏng hóc gây gián đoạn. Để đảm bảo được điều đó, tối thiểu có một cặp máy, thiết bị chạy song song, liên tục liên lạc với nhau, cái chính hỏng, cái phụ sẽ lập tức biết và tự động thay thế. Một ví dụ đơn giản nhất là một số máy chủ có hai bộ nguồn, tự động thay thế nóng cho nhau.

Đối với các máy chủ phần mềm (Mail server, File server, web server, database server,...) vấn đề phức tạp hơn thiết bị phần cứng một chút vì để thay thế tự động được cho nhau, dữ liệu giữa hai máy chủ phải được liên tục đồng bộ đến từng lần ghi dữ liệu dù nhỏ nhất vào ổ cứng.

Phần mềm DRBD (Distributed Replicated Block Device) đảm nhận việc đồng bộ này. Khi được cài đặt trên hai hay nhiều máy chủ trong một nhóm (cluster), drbd thực hiện việc liên tục đồng bộ giữa các partition ổ cứng được chỉ định thông qua mạng. Một lệnh ghi ổ cứng trên máy chủ chính chỉ được coi là hoàn thành khi lệnh ghi đó cũng được thực hiện xong ở các máy chủ khác trong cùng cluster. Nói cách khác, drbd thực hiện việc tạo các nhóm ổ cứng RAID-1 qua mạng, còn gọi là net-raid.

Heartbeat đảm nhận các công việc còn lại (trước năm 2007). Heartbeat chạy thường trú (daemon) trên các máy trong một cluster, thông tin liên tục cho máy phụ biết về trạng thái dịch vụ cần high availability trên máy chính (tôi còn sống và đang làm việc!). Một khi dịch vụ đó "chết", heartbeat lập tức khởi động các dịch vụ thay thế trên máy phụ để chuyển máy đó thành máy chính. Việc thay thế này thực hiện được vì partition ổ cứng trên hai máy đã được drbd đồng bộ như nói ở trên.

Khi một cặp máy chủ Mail server, File server, Web server sẵn sàng cao chạy, nếu máy chính bị shutdown, hỏng card mạng, phần mềm mail server, ... bị treo, v.v... máy chính sẽ bị loại ra ngoài hệ thống, máy phụ lập tức khởi động dịch vụ thay thế và được chuyển thành máy chính.  Quá trình đó hoàn toàn tự động và trong suốt với người dùng. Người dùng chỉ cảm thấy bị gián đoạn lúc máy phụ đang khởi động dịch vụ.

DRBD và Heartbeat đều là phần mềm nguồn mở chạy trên các máy chủ Linux (trong các kho phần mềm của RedHat, SUSE, Ubuntu, CentOS, ... đều có sẵn hai phần mềm này). Dự án Linux HighAvailability (Linux-HA) đã được ứng dụng ổn định trong thực tiễn từ năm 1999 cho những phần mềm quan trọng (The Linux-HA project has been in production in mission-critical applications since about 1999) tại hàng nghìn site trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau. Một số ví dụ thành công (success stories) xem ở đây.

Cách giải thích như trên chỉ là cách nói đơn giản nhất về khái niệm high availability trong thế giới nguồn mở. Đi sâu vào đương nhiên còn nhiều chi tiết hơn (drbd có thể thực hiện ba kiểu mirror, cluster có thể gồm nhiều máy và tất cả các máy đều là chính, v.v...). Nguồn mở có cái hay là nếu bạn định tìm hiểu hãy đăng ký vào trường đại học Internet, thụ giáo giáo sư Gúc, lấy hai cái máy để bàn có nối mạng ở cơ quan, tải phần mềm về thử luôn. Điều kiện để được nhập học: chỉ số IQ trên trung bình + khả năng đọc tiếng Anh tốt+ lòng say mê, không ngại khó. Bù lại khi tốt nghiệp bạn sẽ hiểu sâu thêm khá nhiều điều. Sau khoảng 2 tháng qua nhiều thử nghiệm, cuối cùng tôi dừng lại ở một cặp cluster Ubuntu Server 8.04, drbd, heartbeat, Zimbra mail server chẳng kém gì Win Server 2003, Exchange, Outlook. Cài được chỉ là một bước, quản trị được, tinh chỉnh (fine tuning), khắc phục sự cố còn cả một quãng đường dài. Linux desktop tạm coi là đủ và cày mãi cũng chán. Đi thám hiểm vùng đất mới! Một lý do nữa: cặp mail server đang dùng do công ty tin học hàng đầu VN cài chán quá!

Nếu không đủ ba điều kiện nhập học trên, tốt nhất là nấp sau lưng Bill Gate, lén kiếm ba bộ đĩa crack trên về và theo cái wizard của nó. Tôi rất ủng hộ wizard cho máy để bàn (như Mandriva) nhưng với máy chủ thì ... ta sẽ bàn vấn đề này trong một post sau.

7/19/09

Hệ điều hành Google Chrome, một bước tiến dần đến điện toán đám mây

Ngày 7/7/2009, Google công bố trên blog chính thức của hãng về kế hoạch xây dựng hệ điều hành nguồn mở Google Chrome OS trước mắt dành cho netbook vào cuối năm 2010. Tin này lập tức gây nên một trận động đất trên các phương tiện truyền thông vì đây là lần đầu tiên một người khổng lồ tin học công khai lấn sân của Microsoft trong lĩnh vực hệ điều hành. Mới có 3 hôm nhưng gúc cụm từ "Chrome OS" cho 21 triệu kết quả!

Ngoài khía cạnh kinh doanh nói trên, đây là một bước nữa tiến dần đến thời đại điện toán đám mây đã được trình bày trong một post trước. Dưới đây điểm qua vài nét, tất cả đều xoay quanh việc vào Internet không chỉ để "lướt web" mà để kết nối vào một rừng máy chủ, làm việc thật sự.

Theo công bố trong blog nói trên, Google Chrome OS là một hệ điều hành nguồn mở, nhẹ (lightweigh) sẽ có mặt trên các netbook vào nửa sau năm 2010 và sau này là trên các máy PC. Ba đặc điểm chính là nhanh, đơn giản và an toàn (Speed, simplicity and security).

Đơn giản bởi vì nền tảng chạy ứng dụng đã chuyển chỗ. Cho đến hiện nay, các ứng dụng chạy trên nền hệ điều hành của máy trạm. Vì vậy, hệ điều hành càng ngày càng phức tạp để có thể cung cấp được nhiều dịch vụ cho các ứng dụng. Trong tương lai, các ứng dụng chạy trên các máy chủ Internet và giao diện với người dùng qua trình duyệt (web-based), hệ điều hành trên máy trạm chỉ còn cần chủ yếu để chạy trình duyệt và các công nghệ bên dưới nó. Phần ứng dụng chạy trên máy trạm là chạy trên nền web. Những giao diện đẹp và nặng nề hiện nay cũng không còn cần thiết nữa vì giao diện của ứng dụng sẽ được cung cấp từ Internet. Giao diện của hệ điều hành bây giờ sẽ là trình duyệt web. Google Chrome OS không phải để cài các bộ Office nặng nề, những bộ Office đó đã có sẵn trên Internet (Google Docs, Zoho Office, Thinkfree Office, v.v...). Điều đó cũng sẽ đúng cho các ứng dụng khác: Chỉnh sửa ảnh, Quản lý dự án, Kế toán, v.v..

Cũng vì đơn giản nên tất nhiên là sẽ nhanh. Thời gian khởi động và tắt hệ điều hành chỉ còn vài giây như bật tắt Tivi.

Với một công dụng mới như vậy, đương nhiên hệ điều hành cần phải được thiết kế lại từ đầu. Google nói rằng khi thiết kế mới, họ sẽ chú ý đến kiến trúc an ninh nền tảng bên dưới. Ta có thể hy vọng rằng trước mắt, số lượng khổng lồ các malware chạy trên Windows sẽ không còn đất dụng võ. Còn về lâu dài, cái gì con người làm ra, con người cũng phá được. Nhưng có lẽ sẽ khó hơn và không tồi tệ như đại dịch virus hiện nay.

Google nói rằng họ lắng nghe và đáp ứng ý kiến người dùng. Người dùng muốn:

  • Bật máy tính lên là có email ngay, không phải chờ khởi động lâu: Điều này dĩ nhiên vì với hệ điều hành khởi động chỉ có vài giây, giao diện là trình duyệt lại đặt trang chủ là Gmail chẳng hạn thì không khó khăn gì.

  • Máy tính lúc nào cũng chạy nhanh như lúc mới mua: Điều này cũng hiển nhiên vì mọi thứ đều lưu trên máy chủ Internet, hầu như chẳng có dữ liệu gì lưu lại trên ổ cứng. Ổ sẽ không bị phân mảnh, không có hàng đống file rác, không có các registries ngày càng phình to, tìm kiếm mất thì giờ. Chỉ còn cache trình duyệt tự động xóa sau mỗi lần tắt máy và một số nội dung offline.

  • Dữ liệu có thể truy cập được từ bất cứ đâu, không phải lo lắng mất máy tính, hỏng ổ cứng hoặc quên backup: Dữ liệu lưu trên các máy chủ Internet đáp ứng yêu cầu đó.

  • Không mất thì giờ cấu hình máy và cập nhật phần mềm.


Thực ra ý tưởng hệ điều hành web không phải mới. Trong post này có giới thiệu một sản phẩm của Asus đi theo hướng đó dùng công nghệ Splashtop. Google gây được tiếng vang lớn vì cái tầm vóc khổng lồ của họ.

Nhưng Google Chrome OS không thể thành công riêng lẻ. Nó chỉ là một khâu trong điện toán đám mây. Thành công của nó còn phụ thuộc vào:

  • Hạ tầng Internet: các công nghệ truyền dẫn mới tốc độ cao, các điểm truy cập Internet nhanh, ổn định, giá rẻ hoặc miễn phí có ở khắp nơi.

  • Các công nghệ nền và công cụ để phát triển ứng dụng web nhanh, dễ. Số lượng các ứng dụng web lớn và có tính năng đủ đáp ứng người dùng thay thế được cho các ứng dụng chạy trên PC hiện tại.

  • Thói quen và niềm tin của người dùng khi "dựa" toàn bộ vào Internet. Ví dụ: soạn văn bản là nghĩ ngay tới Zoho Writer.


Với hiện trạng của ba yếu tố trên, Chrome OS chưa thể thành công trong một vài năm tới.

7/18/09

Vài thủ thuật hay

Tình cờ tìm được vài thủ thuật hay tại site http://tips4Linux.com.

Xem thông số RAM


Chạy lệnh sau trong terminal: sudo dmidecode -t memory sẽ cho biết nhiều thông số về RAM. Tương tự, thay memory bằng bios, processor, system, v.v.... Để biết chi tiết về lệnh này gõ man demidecode.

Hoặc gõ một lần sudo dmidecode | more để xem toàn bộ các thông số bios. Với Mandriva, không cần sudo nhưng trước đó phải chuyển sang user root bằng lệnh su.

Lệnh lshw cũng liệt kê các thông số phần cứng. Ví dụ lshw -c memory liệt kê tất cả các loại ram trong máy (bios firmware, cache của bộ xử lý, RAM).

Kiểm tra trạng thái pin của laptop


a/ Thông số pin

Lệnh: grep -F : /proc/acpi/battery/BAT0/info
Kết quả tương tự như sau:

present:                              yes
design capacity:                2200 mAh
last full capacity:               2200 mAh
battery technology:           rechargeable
design voltage:                  14800 mV
design capacity warning:   66 mAh
design capacity low:           66 mAh
capacity granularity 1:       10 mAh
capacity granularity 2:       2134 mAh
model number:                    Bat 4Cell
serial number:                     236
battery type:                      Lion
OEM info:

b/Trạng thái pin:

user@laptop:~$ acpi -t
Battery 0: Full, 100%
Thermal 0: ok, 44.5 degrees C
user@laptop:~$ acpi -V
Battery 0: Full, 100%
AC Adapter 0: on-line
Thermal 0: ok, 41.5 degrees C
Cooling 0: Processor 0 of 10
Cooling 1: Processor 0 of 10

Khôi phục boot menu sau khi cài lại Windows


Khi trên máy đã cài Windows, cài thêm Linux thì Linux sẽ tạo boot menu để chọn khởi động vào Windows hay Linux. Nếu sau đó phải cài lại Windows, boot menu sẽ mất và chỉ còn khởi động thẳng vào Windows mà không vào Linux được nữa. Để khôi phục lại boot menu làm như sau:

  1. Boot máy bằng đĩa cài Linux vào chế độ LiveCD.

  2. Khi đã khởi động xong Linux, mở terminal rồi chạy lệnh su để chuyển sang user root (Mandriva), Ubuntu thì không cần.

  3. Chạy lệnh grub (Mandriva) hoặc sudo grub (Ubuntu).

  4. Tại dấu nhắc grub> gõ lệnh find /boot/grub/stage1
    rồi Enter

  5. Danh sách các partition có cài Linux xuất hiện. Nếu chỉ có một bản Linux: (hd0,x), x=1,2, ..., nếu có nhiều bản: (hd0,2), (hd0,4), ... Chú ý là trong danh sách không có các partition không cài Linux.

  6. Gõ tiếp lệnh root  (hd0,x) trong đó x=1, 2, ... rồi Enter

  7. setup (hd0) (Enter)

  8. quit (Enter)

  9. Khởi động lại máy, lấy đĩa CD ra để boot bằng ổ cứng. Xong.

7/7/09

Peazip - một trình nén và giải nén hay

Hay bởi vì peazip không chỉ nén và giải nén được vô số loại file mà còn có nhiều tính năng khác.

peazip1Nén và giải nén được các loại file:

Giải nén được các loại file:

ACE, ARJ, CAB, CHM, COMPOUND (MSI, DOC, XLS, PPT), CPIO, ISO, Java (JAR, EAR, WAR), Linux (DEB, PET/PUP, RPM, SLP), LHA/LZH, LZMA, Mac (DMG/HFS), NSIS, Open Office files, PAK/PK3/PK4, RAR, SMZIP, U3P, UDF, VHD, WIM, XAR, XPI, XZ, Z/TZ


Tổng cộng hỗ trợ 87 kiểu file nén khác nhau.

Tạo được file nén tự giải (self-extracting).

Tạo và giải nén nhiều file cùng một lúc.

Có các bản cài (installable) chạy được trên Windows 32, 64 bit và trên Linux. Có cả bản không cần cài (portable) để chạy trên usb, ... Giao diện trong mọi trường hợp trên đều giống nhau.

Có một số tính năng xử lý file (hình dưới)

  • peazip2Chia một file lớn thành nhiều phần hoặc nối các phần đã chia thành một file (Splite/Join files).

  • So sánh các file với nhau (Compare files)

  • Tạo số kiểm tra file (Checksum/hash files)

  • Xóa vĩnh viễn file, không undelete, recovery được (Secure delete)


Bảo mật file nén bằng password, mã hóa nội dung file bằng password hoặc bằng cả password và key file (có chức năng tạo password ngẫu nhiên).

Trang chủ và download tại đây. Có tài liệu hướng dẫn sử dụng chi tiết (pdf).

Nhược điểm:

Khi cài xong, nhấn phím phải chuột vào một file nén, các menu cũ (Extract Here, Extract To...) bị mất, thay vào là các lệnh của Peazip. Khi nhấn phím phải chuột vào một file nén của Linux dạng tar.gz hoặc tar.bz rồi chọn Extract here (Peazip) thì không giải nén hết ngay: đầu tiên giải nén thành file tar, sau đó phải Extract here lần nữa mới thành các file gốc.

Lâu ngày không dùng Winzip, không nhớ các tính năng để so sánh. Tuy nhiên có một ưu điểm: Peazip là phần mềm nguồn mở nên cài vô tư lên Windows, không cần crack như Winzip.

6/25/09

Chín bộ themes đẹp của Ubuntu

Chín bộ themes đẹp dưới đây dành cho Ubuntu Intrepid và Jaunty được giới thiệu tại Zgegblog . Cách cài như sau:
(cách cài dưới đây dùng lệnh chạy trong Terminal. Copy các lệnh ở đây rồi paste vào terminal cho nhanh và đỡ nhầm. Cũng có thể cài bằng Synaptic Package Manager).

Thử cài lên Linux Mint không được vì phải gỡ một số phần cơ bản của Mint.



Đầu tiên add repo chứa themes bằng cách sửa file /etc/apt/sources.list
sudo gedit /etc/apt/sources.list

thêm hai dòng sau vào cuối file:

Với Ubuntu Jaunty:
deb http://ppa.launchpad.net/bisigi/ppa/ubuntu jaunty main
deb-src http://ppa.launchpad.net/bisigi/ppa/ubuntu jaunty main

Với Ubuntu Intrepid cũng hai dòng trên thay từ "jaunty" bằng "intrepid"

Save rồi đóng màn hình gedit.

Add khóa GPG của kho phần mềm trên bằng lệnh sau:


sudo apt-key adv --recv-keys --keyserver keyserver.ubuntu.com 0x1781bd45c4c3275a34bb6aec6e871c4a881574de

(nếu lệnh này bị lỗi cũng không sao vì quá trình cài tiếp theo vẫn thực hiện được)

Cập nhật danh sách phần mềm bằng lệnh:
sudo aptitude update

Cài toàn bộ các themes bằng lệnh:
sudo aptitude install zgegblog-themes

Chú ý là dung lượng tải về khoảng 180MB và tốc độ tải từ kho launchpad khá chậm.

Khi cài xong, nhấn vào menu System -> Preferences -> Appearance rồi chọn trong tab Themes.

Ảnh mẫu các themes như sau:


Showtime for Gnome

1


Balanzan

balanzan_pres


Infinity

infinity-pres


Wild shine

wild-pres


Exotic

exotic


Tropical

tropical-prsentation


Bamboo Zen

bamboo-prs


Ubuntu sunrise

ubuntu_presentation


Aqua Dreams

expose

Có thể cài riêng từng themes bằng các lệnh:

sudo aptitude install showtime-theme


sudo aptitude install balanzan-theme


sudo aptitude install infinity-theme


sudo aptitude install wild-shine-theme


sudo aptitude install exotic-theme


sudo aptitude install tropical-theme


sudo aptitude install bamboo-zen-theme


sudo aptitude install ubuntu-sunrise-theme


sudo aptitude install  aquadreams-theme



Gỡ bỏ các Themes

Gỡ bỏ toàn bộ các themes trên bằng lệnh:
sudo aptitude remove zgegblog-themes

Hoặc gỡ bỏ từng themes bằng lệnh:
sudo aptitude remove themename

trong đó themename là tên themes đã nêu ở trên.

6/24/09

Hai kiểu link giữa các file OpenOffice Calc

Giả sử ta có một file bảng tính gốc test2.odt với các ô từ B2-B5 có dữ liệu như sau:

test2Ta muốn copy các dữ liệu này sang một bảng tính khác test1.odt sao cho khi các dữ liệu trong hình trên ở file test2 thay đổi thì các dữ liệu tương ứng ở test1 cũng thay đổi.

Cũng giống như trong Excel, có hai cách làm:

Cách 1: Mở cả hai file, trong file test1, đánh dấu = vào ô đầu tiên muốn copy rồi chuyển sang file test2 nhấn vào ô B1 rồi Enter. Quay về test1, ô đầu tiên đã được copy, rê chuột kéo xuống các ô dưới, màn hình như sau:

test3Chú ý thanh công thức, công thức link ở đây là ='file:///home/zxc/test2.ods'#$Sheet1.B2

Cách 2: Mở cả hai file. Trong file test2, bôi đen các ô định copy rồi nhấn nút Copy trên toolbar. Chuyển sang file test1, nhấn chuột vào ô đầu tiên định copy rồi nhấn menu Edit -> Paste Special. Trong màn hình xuất hiện  đánh dấu chọn mục Link rồi OK. Màn hình như sau:

test4Chú ý thanh công thức, công thức khác với cách trên.

Đặc điểm:

Trong màn hình của file test1, nhấn vào menu Edit -> Links ta có:

test5Trong màn hình trên có hai link. Link thứ nhất có Type=Document và Status=Manual là link của cách 1. Link thứ hai có Type=soffice và Status=Automatic là link của cách 2.



Theo cách 1 thì dữ liệu ở test1 không tự động thay đổi khi dữ liệu ở test2 thay đổi. Khi thay đổi dữ liệu ở test2 xong, phải nhấn nút Save rồi sang test1 mở màn hình Edit Links trên nhấn nút Update, dữ liệu trong test1 mới được cập nhật. Có khi phải nhấn vài lần Update dữ liệu mới cập nhật.

Theo cách 2, dữ liệu tự động cập nhật. Chỉ cần sửa dữ liệu trong test2 là dữ liệu trong test1 tự động sửa theo ngay.

Ngoài ra, theo cách 2, khi nhấn vào nút Modify có thể sửa được một vài thứ của link. Theo cách 1, nhấn nút Modify chỉ sửa được mỗi đường dẫn của file.

Còn một chỗ nữa để điều khiển update link. Nhấn vào menu Tools -> Options -> OpenOffice Calc -> General. Trong mục Updating có thể chọn cho link tự động update khi mở file, hỏi trước khi updat hoặc không bao giờ update.

Còn hai vấn đề nữa về link tôi chưa thử được vì không còn Windows trên máy. Bạn đọc tự thử:

1- Khi mở file test1 có chứa hai kiểu link nói trên bằng MS Excel thì Excel hiểu hai link đó thế nào?

2- Trong Excel, hai kiểu link trên có các đặc điểm giống như trên không?

6/7/09

Linux Mint 7 Gloria





Ngày 26/5/09, bản Linux Mint 7 tên mã Gloria ra đời. Có thể đánh giá vắn tắt đây là một bản Linux thành công, luôn đứng trong top đầu xếp hạng về mức độ quan tâm của site Distrowatch (căn cứ theo page hit). Dưới đây điểm qua các đặc điểm chính.

Trước hết, thành công của Linux Mint dựa trên thành công của Ubuntu. Linux Mint là một bản linux cộng đồng dựa trên nền Ubuntu 9.04, bổ xung thêm các tính năng hướng người dùng, thuận tiện hơn trong sử dụng. Ubuntu có hàng chục "con" với nhiều hướng phát triển khác nhau, nhưng Linux Mint là nổi nhất.

PCLinuxOS dựa trên nền Mandriva cũng là một bản linux "con" của Mandriva đi theo hướng tương tự, nhưng bản PCLinuxOS 2009.1 vừa rồi không thành công được như vậy dù số trình tiện ích có vẻ nhiều hơn.

Linux Mint 7 hiện là bản Linux có thể dùng cài nhanh cho bạn bè, người quen chưa dùng Linux. Sau khi cài chỉ cần cài thêm bộ gõ tiếng Việt scim-unikey, add một số font Windows, cài máy in là dùng ngay được và tương đối dầy đủ.




Linux Mint 7 "Gloria"

Phần mềm


Linux Mint dùng lại toàn bộ các kho phần mềm (repositories) của Ubuntu và bổ xung thêm một số kho riêng. Các phần mềm không phải nguồn mở nhưng cần thiết đều được cài sẵn (multimedia codecs, java, flash, zip, unrar, ...). Trong Ubuntu, những phần mềm này chỉ có sau khi cài ubuntu-restricted-extra hoặc perfectbuntu.
Các phần mềm ứng dụng cũng được chọn lọc tương đối đủ. Một ví dụ: một trong những phần mềm hay là Okular dùng xem và ghi chú file PDF (đã giới thiệu trong một post trước) mặc dù viết cho KDE4 nhưng cũng đã được cài sẵn trong Linux Mint.  Vì vậy cài xong chỉ cần bổ xung bộ gõ tiếng việt scim-unikey (cách cài giống như với Ubuntu 9.04) là dùng được ngay cho các nhu cầu văn phòng thông thường.
Trên site của FPT (http://mirror-fpt-telecom.fpt.net/ ), Linux Mint chỉ mới có vỏ (tên thư mục) mà không có ruột.

Menu chính


Menu chính (nhấn vào nút Menu ở góc trái bên dưới màn hình) là cải tiến lớn nhất trong phiên bản này. Hiện có hai dạng menu phổ biến: menu kiểu cổ điển của GNOME và KDE3, di chuột đến đâu hiện lên menu con đến đấy và menu kiểu "kick-off" mà một số bản Linux KDE4 hiện đang dùng (Mandriva, openSUSE), có thể phải kích đến ba lần chuột mới đến được chỗ cần (vì chỉ có một màn hình với một cột). Mỗi kiểu đều có cái hay cái dở riêng. Menu chính của Linux Mint tổ hợp được những cái hay của hai kiểu menu trên và bổ xung thêm một số tính năng.
Khi nhấn lần đầu vào nút Menu, menu chính hiện ra như hình dưới gồm hai cột. Cột bên trái có các thư mục hay truy cập và một số phần mềm, lệnh hệ thống. Cột bên phải là Favorites, các phần mềm hay dùng. Danh sách Favorites có thể thêm bớt tùy ý. Cũng có thể thêm cột thứ ba bên phải là Recent Documents để mở các tài liệu gần đây cho nhanh (nhấn chuột phải vào menu, chọn Preferences rồi chọn Show recent documents trong tab Options).



Nếu cần tìm các phần mềm khác thì nhấn All applications, cột bên phải sẽ chia thành hai cột gồm các nhóm ứng dụng và danh sách ứng dụng trong nhóm, di chuột đến tên nhóm nào hiện lên nhóm đó ở cột bên phải theo kiểu menu cổ điển nhưng trực quan hơn. Bên dưới tên mỗi phần mềm có một dòng mô tả ngắn (xem hình dưới).

Dưới đáy màn hình là Filter. Nếu không muốn di chuột tìm thì gõ vào đó vài từ trong tên ứng dụng để tìm.
Nếu ứng dụng cần tìm không có trong menu, tức là chưa được cài, sẽ xuất hiện cột Suggestions (đề xuất) như hình dưới.






Search portal sẽ dẫn bạn đến site phần mềm (www.linuxmint.com/software) để tìm. Search repositories sẽ tìm trong các kho phần mềm của Ubuntu và Linux Mint (đã được enable). Show package cho hiện các thông tin chi tiết về gói phần mềm (nếu có). Install package sẽ cài gói phần mềm đó nếu có sẵn trong các kho. Nói tóm lại menu chính sẽ kiêm một số chức năng của trình Package Manager.




Menu chính mặc định có thể mở bằng cặp phím Ctrl+Start (phím Start có logo của Microsoft còn gọi là Windows key. Trong linux phím này gọi là Super_L) và đóng lại bằng phím Start hoặc Esc. Có thể đặt phím khác tùy ý.

Software Manager


Ngoài trình quản lý các gói phần mềm (package manager) Synaptic như Ubuntu, Linux Mint có trình quản lý phần mềm riêng mintInstall cho phép tìm kiếm, xem xét trước khi cài các phần mềm ứng dụng hoàn chỉnh (trên menu là Software Manager).
Điểm mới lần này so với phiên bản Linux Mint 6: danh mục một số phần mềm phổ biến, hiện chưa cài (Featured applications), tự động hiển thị các thông tin và màn hình xem trước của phần mềm (xem hai hình dưới đây).











Nhấn vào ảnh màn hình (screenshot), ảnh sẽ được phóng to để xem kỹ hơn. Khi nhấn nút More Info, màn hình sau xuất hiện cho biết khá chi tiết về phần mềm.



Tóm lại Software Manager giống như một cửa hàng, vừa giới thiệu các loại hàng bán chạy (featurred applications), vừa cho xem kỹ hàng cả về hình thức lẫn các thông tin chi tiết trước khi chọn mua (cài đặt lên máy).




Một vài cải tiến khác


Firefox được cài sẵn Moonlight plugin, phiên bản nguồn mở của Microsoft Silverlight. Tuy nhiên hiện Moonlight chỉ mới đến bản 1.0 do đó ví dụ chưa xem được site media của báo Thanh niên (dùng Silverlight 2.0). Hiện cũng đã có bản Moonlight 2.0 Preview nhưng chưa được tốt.

Các file multimedia nhúng trong Firefox xem bằng gecko-mediaplayer plugin (đã cài sẵn). Plugin này khá hơn mozila-mplayer là khung hình giữ nguyên vị trí trong trang web. Ví dụ khi xem trang media của báo Tuổi trẻ (media.tuoitre.com.vn), nhấn chuột phải vào thanh điều khiển, chọn Preferences rồi Video output chọn gl, Audio output chọn alsa sẽ xem được. Trước đây dùng mozilla-mplayer thì xuất hiện màn ảnh phụ, giao diện cũng kém hơn.

Bổ xung thêm lệnh inxi chạy trong terminal cho biết khá nhiều thông tin hệ thống (xem hình dưới)


Screenshot-Terminal


Tính năng power management chạy khá tốt. Để laptop chạy không một thời gian định trước, Linux Mint tự động suspend to ram (hoặc disk) và khi nhấn nút Power khôi phục lại trạng thái cũ trơn tru.
Sau một thời gian dùng thử, Linux Mint chạy khá ổn định.
Chỉ có bộ gõ tiếng Việt scim-unikey đôi khi bị đơ không gõ được trong Firefox. Khởi động lại Firefox thì lại gõ được.
Control Center cũng giống Ubuntu và thua xa Mandriva về khả năng cấu hình đơn giản, dễ dàng. Ví dụ cả Ubuntu và Mint đều cho phép người dùng bình thường mount các partition khác, nhưng mỗi lần khởi động phải nhấn nút vào biểu tượng partition trong Computer để mount lại. Muốn mount tự động (ví dụ với partition chứa My Documents của Windows) phải biết cách sửa file fstab. Mandriva có thể mount tạm thời hoặc vĩnh viễn bằng Local disk trong Control Center không cần dùng lệnh.
Nếu Ubuntu và Linux Mint kết hợp được Control Center của Mandriva thì hoàn chỉnh.