1/30/09

KDE chạy trên Windows!

Với một hệ Linux, cùng một lúc cài vài ba môi trường đồ họa (KDE, GNOME, Xfce, IceWM, Fluxbox, ...) chẳng có gì là khó. Hiện có khoảng hơn một tá môi trường đồ họa như thế. Mỗi môi trường có cái hay cái dở riêng: KDE4 đẹp lộng lẫy nhưng yêu cầu cấu hình cao và cũng chưa đủ độ chín, GNOME khá phổ biến, rất nhiều bản Linux lấy nó làm môi trường mặc định, Xfce là môi trường nhẹ, dành cho máy cấu hình thấp hoặc những người thích nhanh, không cầu kỳ về hình thức, v.v...Ứng dụng viết cho môi trường này, nói chung có thể chạy tốt trong môi trường khác. Lúc log in, có thể chọn môi trường nào tùy thích. Do đó:

  • Cùng một bản Linux có thể cài trên máy có cấu hình mạnh yếu khác nhau. Vd: máy mạnh chạy KDE4, máy yếu: Xfce. Các ứng dụng khác như OpenOffice vẫn giống nhau. Do đó với máy yếu vẫn dùng được hệ điều hành mới nhất, chỉ kém đẹp hơn máy mạnh.

  • Cùng trên một máy có thể log in vào các môi trường khác nhau. Vd: lúc cần làm việc nhanh dùng GNOME hoặc Xfce, lúc thong thả dùng KDE4 cho đẹp. Trong màn hình log in, nhấn vào icon dưới đáy màn hình đó để chọn.


Trước đây, thực hiện điều sau hơi khó vì mỗi môi trường lại có một bộ gõ tiếng Việt khác nhau: KDE dùng x-unikey, GNOME dùng xvnkb. Nay thống nhất được bộ gõ scim thì không còn là vấn đề nữa.

Nguyên một việc này cũng cho thấy cái tự do phóng khoáng của PMNM hơn hẳn Windows như thế nào.

(Ví dụ cách cài: với Mandriva 2009, mở Software Management, chọn Meta package, bên dưới mục Graphic Desktop chọn môi trường nào cài thêm tùy ý, sau đó cài gói ví dụ task-gnome-minimal. Các bản Linux khác, tên gói có thể khác: gnome-desktop, ...).

Cài máy ảo lên Windows rồi cài Linux lên máy ảo cũng không còn là cái gì mới nữa. Điều dưới đây mới là mới:

Phiên bản KDE 4.2 mới nhất vừa ra đời 27/1/2009 có thể cài và chạy được trên Windows, MacOS (bản thử nghiệm) và sắp tới sẽ chạy trên OpenSolaris, FreeBSD.

Trong Windows (từ 2000 đến Vista), tải chương trình Installer (kdewin-installer-gui-latest.exe) tại đây. Sau đó cho chạy file nói trên và theo các màn hình hướng dẫn tùy chọn các chương trình để tải về tự động cài (khoảng vài chục MB). Sau khi cài xong, các chương trình KDE sẽ xuất hiện trong menu Start, nhấn vào chạy trực tiếp trên Windows (không phải qua máy ảo) như chương trình Windows thông thường (tuy hơi chậm), .

Màn hình ví dụ:

kdewin42_plasma-tasks-thumb-640xauto-3401

Chú ý là trên màn hình này chỉ có Windows Task Manager là của Windows. Còn lại panel, desktop, trình quản lý file Dolphin, các widget (đồng hồ, lịch, folder view...) đều của KDE. Bên dưới nó là Windows!

Hướng dẫn chi tiết xem thêm tại đây.

Tôi đã thử, gõ được tiếng Việt bằng unikey for Windows trong KWrite.

1/28/09

Linux Mint 6 (Felicia)

Năm kia, nếu tôi nhớ không nhầm thì Linux Mint luôn đứng trong TOP 5 trên DistroWatch. Trong 12 tháng qua, luôn đứng thứ 3 chỉ sau có Ubuntu và OpenSUSE. Vì vậy cũng đáng để tìm hiểu.

Theo DistroWatch.com:

"Linux Mint... ban đầu được công bố như một phiên bản của Ubuntu với media codecs cài sẵn, nay nó đã phát triển thành một trong những bản Linux thân thiện nhất với người dùng... Điều quan trọng nhất là đây là một dự án mà các nhà phát triển và người dùng tương tác với nhau thường xuyên..."

Các nguyên nhân thành công theo chính Linux Mint:

  • Một trong những bản Linux hướng người dùng nhất. Bạn có thể post ý kiến lên diễn đàn và tuần sau đã thấy nó được thực hiện trong phiên bản hiện hành.

  • Mint dựa trên nền Debian, một bản Linux ổn định nhất và có kho phần mềm lớn nhất.

  • Tương thích và sử dụng được các kho phần mềm của Ubuntu. Do đó số lượng phần mềm có sẵn rất lớn.

  • Có nhiều cải tiến trong cấu hình nên user dễ thực hiện.

  • Tập trung làm sẵn mọi việc đến mức tối đa có thể nên dễ sử dụng.


Một vài nhận xét sơ bộ: (bản Mint 6 dựa trên Ubuntu 8.10)

  • Nhóm phát triển khoảng 20 người, có bán dịch vụ support (30USD/tháng với người dùng ở nhà) và dựa vào tiền quyên góp, quảng cáo trên site. Mô hình kinh doanh kiểu này yếu và dễ suy thoái như PCLinuxOS. Hiện tại thì cập nhật nhanh: chỉ ít lâu sau khi có Ubuntu 8.10 đã có Mint 6.

  • Tiếng Việt trong Mint dùng scim-unikey gõ tốt. Khi cài nhớ cài scim-brige và vào Language Support để enable support to enter complex characters.

  • Có Control Center tập trung giống PCLinuxOS. Trong đó, ngoài những cái của GNOME, có thêm một số cái riêng của Mint (mintInstall, mintBackup, mintNany, ...). Tuy thua Mandriva và PCLinuxOS ở các wizard, nhưng khá hơn Ubuntu. Riêng mintInstall là một trình quản lý các phần mềm khá, có nhiều thông tin xem trước khi cài: ý kiến nhận xét, điểm số, trang chủ, ....

  • Các multimedia codecs như gstreamer được cài sẵn nên dùng được ngay (nghe nhạc, xem video với khá nhiều format).

  • Dùng được các kho phần mềm của Ubuntu là một ưu điểm lớn: số lượng phần mềm nhiều và có thể search trong Synaptic theo cả các keyword có trong Description. Riêng mặt này Mandriva thua.

  • Giao diện được, tất nhiên là không bằng Mandriva.

  • Thừa kế luôn cả những nhược điểm của Ubuntu: vẫn dùng OpenOffice 2.4.

  • Bản chính thức dùng GNOME. Chỉ có hai phiên bản: Main Edition và Universal Edition. Bản Universal giống bản Mandriva Free: chỉ gồm các gói phần mềm nguồn mở. Cũng có những bản gọi là Community Edition dùng KDE, Xfce, Fluxbox.


Thử khả năng tương thích phần cứng:

Trên máy notebook Dell Inspiron 700m có cài 4 hệ điều hành: WinXP, Mandriva 2009, PCLinuxOS GNOME 2007 và Linux Mint 6. Nối thêm một màn hình ngoài LCD LG FLATRON L1718S. Lần lượt khởi động từng hệ điều hành nói trên để xem khả năng nhận biết màn hình ngoài. Kết quả:

  • Mandriva 2009 tốt nhất: nhận đúng cả hai màn hình với độ phân giải 1280x800, 65,3Hz (màn hình của notebook) và 1280x1024, 60Hz (màn hình ngoài LG). Trong System Settings, mục Display (cũng chính là công cụ KRandR Tray trong Tools - System Tools) cho phép chỉnh độ phân giải, xoay hướng màn hình, bố trí vị trí từng màn hình được. Tóm lại là đầy đủ.

  • WinXP: màn hình ngoài hiển thị đầy đủ nhưng lại theo tỷ lệ của màn hình notebook do đó bị co chiều thẳng đứng. Lâu không dùng Windows nên cũng không nhớ chỉnh ở đâu và có chỉnh được như Mandriva không.

  • Linux Mint 6: màn hình ngoài bị đặt ở độ phân giải 1024x768, đã chỉnh lại thành 1280x1024 nhưng không nhận.

  • PCLinuxOS: màn hình ngoài bị phóng to mất các mép màn hình. Thử chỉnh lại không được.


Tóm lại như đã nhận xét trong một post trước đây khi so sánh vài hệ Linux, Mandriva có vẻ tương thích phần cứng khá nhất và có các công cụ cấu hình đầy đủ nhất. Để khi nào có dịp sẽ thử với Ubuntu xem sao.

Kết luận: Nếu thích Ubuntu thì nên dùng Mint vì dễ dùng hơn.

Các kho phần mềm nguồn mở tại Việt nam

Một số công ty, tổ chức tại Việt nam hiện đã cung cấp các server lưu trữ phần mềm nguồn mở. Tìm kiếm, tải về và cập nhật từ các kho này đương nhiên là nhanh hơn nhiều so với các kho ở nước ngoài.

1- FPT

Địa chỉ server của FPT là http://mirror-fpt-telecom.fpt.net/

Tại đây có các bản Linux Fedora, Ubuntu, CentOS, Mandriva, Debian, OpenSUSE, Slackware và một số phần mềm: OpenOffice, KDE, GNOME, Apache, ....

Trong các bản Linux, Ubuntu có vẻ đầy đủ hơn cả gồm các file iso cho desktop và server từ 6.04 đến bản mới nhất là 8.10. Ngoài ra còn có các kho phần mềm (repository) để cài đặt và cập nhật. Thay cho các repo của Ubuntu có thể add các địa chỉ sau:

deb http://mirror-fpt-telecom.fpt.net/ubuntu/ intrepid main restricted universe multiverse
deb http://mirror-fpt-telecom.fpt.net/ubuntu/ intrepid-security main restricted universe multiverse
deb http://mirror-fpt-telecom.fpt.net/ubuntu/ intrepid-updates main restricted universe multiverse
deb http://mirror-fpt-telecom.fpt.net/ubuntu/ intrepid-proposed main restricted universe multiverse

(Bỏ chọn các kho tương ứng của Ubuntu).

OpenSUSE cũng có chất lượng kho tương đương Ubuntu (gồm cả bản iso 11.1 và các repo). CentOS có bản mới nhất là 5.2.

Mandriva trên server này quá cũ (chỉ có bản 2009.1 alpha và không cập nhật, chắc là không được đăng ký trong mirror list của Mandriva). Các phần mềm khá hơn: KDE có bản mới nhất 4.2, OpenOffice có bản 3.0 hoàn toàn Việt hóa, Firefox có bản 3.1 beta2.

Nhìn chung, server của FPT có nhiều PMNM, tốc độ khá nhanh (khoảng 250 - 300KB/s) xứng đáng là cty Tin học số 1 Việt nam. Việt nam thôi vì cách quản lý còn tùy hứng, cái nào không quan tâm thì bỏ. Hy vọng là FPT sẽ cải tiến.

2- OpenLAB:

Tên thì hoành tráng nhưng kho phần mềm có mỗi Ubuntu 8.10 và Moblin. Với Ubuntu 8.10 có thể add các repository này:

deb http://www.oss-hcm.gov.vn/ubuntu/ intrepid main restricted universe multiverse
deb http://www.oss-hcm.gov.vn/ubuntu/ intrepid-security main restricted universe multiverse
deb http://www.oss-hcm.gov.vn/ubuntu/ intrepid-updates main restricted universe multiverse
deb http://www.oss-hcm.gov.vn/ubuntu/ intrepid-proposed main restricted universe multiverse
deb http://www.oss-hcm.gov.vn/ubuntu/ intrepid-backports main restricted universe multiverse

Tôi không dùng cái này bao giờ nên không rõ chất lượng ra sao.

Hai Tổng thống đối mặt với vấn đề PMNM

Nhưng theo hai cách khác nhau: một chủ động và một bị động.

Theo tin của BBC ngày 21/1/2009, Chính phủ mới của Tổng thống Mỹ Obama đã yêu cầu Chủ tịch công ty Sun Microsystem, Scott McNealy chuẩn bị một bản báo cáo về việc chính phủ có thể trở nên an toàn và hiệu quả hơn như thế nào nếu sử dụng các công nghệ và sản phẩm nguồn mở. Rất đáng chú ý là yêu cầu này đặt ra ngay trong tuần làm việc đầu tiên của chính phủ mới.

Đương nhiên là Mr. McNealy, chủ tịch của một công ty đã có những đóng góp rất lớn vào phong trào PMNM (xem post "Các đại công ty tin học và PMNM") nhiệt thành ủng hộ cho việc sử dụng PMNM trong chính phủ Mỹ:"PMNM sẽ cải thiện an ninh, chất lượng phần mềm cao hơn, độ tin cậy cao hơn và chi phí thấp hơn".

BBC dẫn các nguồn tin khác đánh giá rằng lãng phí do dùng các phần mềm nguồn đóng trên toàn cầu cỡ 1000 tỷ một năm và riêng chính phủ Mỹ khoảng 400 tỷ USD.

Trước đó, các bộ ngành trong chính quyền Mỹ cũng đã xem xét đến việc này. Ví dụ, gần đây bộ Quốc phòng Mỹ đang soạn thảo một quy định hướng dẫn việc mua sắm và sử dụng PMNM trong bộ.

Ảnh hưởng của báo cáo này và chính phủ Mỹ quyết định ra sao thì phải chờ hồi sau mới rõ. Tuy nhiên, ngay việc ra đời của báo cáo nói trên cũng đã chứng tỏ sức mạnh và độ chín của PMNM đến mức nào.

Theo tin của CNews ngày 15/1/2009 (bản tiếng Ngabản dịch tự động tiếng Anh), Quốc hội Nga (Đuma Quốc gia) đang chuẩn bị một văn bản gửi Tổng thống Medvedev yêu cầu hỗ trợ một chương trình cấp liên bang xây dựng "hệ điều hành quốc gia - национальной операционной системы".

Ý tưởng này nảy sinh trong cuộc hội nghị bàn tròn cuối năm ngoái bàn về "An ninh quốc gia về Công nghệ Thông tin" theo sáng kiến của nghị sỹ Ilya Ponomarev, chủ tịch tiểu ban phát triển công nghệ.

Mặc dù trong văn bản ngụ ý rằng cơ sở của hệ điều hành quốc gia sẽ là các hệ điều hành PMNM hiện có, mức độ mở vẫn còn để ngỏ để không làm Tổng thống rối trí vì những chi tiết kỹ thuật.


(Хотя подразумевается, что основой для нее станут уже существующие системы с открытым кодом, вопрос о степени ее свободности в письме «останется открытым, чтобы не загружать президента техническими подробностями».).

Tổng thống Medvedev sẽ quyết định thế nào? Cũng phải chờ hồi sau sẽ rõ. Tuy nhiên xét theo bức ảnh có trong bản tin nói trên thì ông không phải tín đồ của Windows.

An ninh của các mạng máy tính nhạy cảm là một mối quan tâm của các chính phủ hiện nay. Xây dựng các hệ điều hành nguồn mở từ gốc (from scratch), về nguyên tắc các chính phủ có thể kiểm soát từng dòng lệnh bên trong hệ điều hành để chắc chắn rằng không có một "cổng hậu" hoặc một quả bom nổ chậm nào được cài sẵn và cũng chủ động kiểm soát được một sản phẩm tự mình xây dựng hơn là một sản phẩm đóng kín của nước ngoài.

Ngay từ năm 1999, quỹ đầu tư mạo hiểm quốc doanh Shanghai NewMargin Venture Capital và sau này  thêm quỹ CCIDNET Investment của bộ Công nghiệp Thông tin Trung quốc đã tài trợ cho việc xây dựng hệ điều hành Linux Hồng kỳ. Gần đây có tin rằng các quán cafe Internet của Trung quốc bắt buộc phải cài hệ điều hành này.(xem thêm tại đây). Hồng kỳ là phiên bản Trung quốc của bản Linux Asianux phát triển chung bởi ba công ty Trung quốc, Hàn quốc và Nhật. Gần đây, Việt nam đã tham gia liên minh này.



1/27/09

Hướng dẫn sử dụng Mandriva 2009

Tài liệu Hướng dẫn sử dụng Mandriva 2009 đã up lên site Mediafire (link ở góc trên bên phải màn hình blog). Đây là tài liệu cơ bản, dành cho người sử dụng bình thường, tiếp theo Hướng dẫn cài đặt Mandriva 2009 đã up lên trước đây.

1/23/09

SCIM-UNIKEY trên Mandriva 2009 và Linux Mint 6

UDATE: tin buồn. scim-unikey-0.1.2a có hai lỗi nặng:

  • Xung đột với OpenOffice, đang gõ thì OpenOffice bị đóng bất thình lình (crash).

  • Trong OpenOffice Calc, trong một ô khi đặt con trỏ gõ chen vào giữa hoặc đầu một hàng ký tự đã có thì tiếng Việt nhảy lung tung (gõ chen ở trên thanh nhập liệu thì được).


Bản scim-unikey-0.2 đang sửa khắc phục được lỗi thứ nhất nhưng chưa khắc phục được lỗi thứ hai. Vẫn bị thỉnh thoảng đang gõ thì mất tiếng Việt (lỗi này nguyên bản của x-unikey-1.0.4).

Một món quà mừng Tết tuyệt vời đối với cá nhân tôi: cuối cùng đã có thể gõ tiếng Việt trên Mandriva ở mọi chỗ bằng scim-unikey! Cám ơn các tác giả!

Cách đây ít lâu, tôi đã thử scim-unikey cài bằng tay trên Mandriva 2009 KDE thấy gõ tốt trong các ứng dụng nhưng hoàn toàn không gõ được trên web.

Nay thử lại theo bản cài đặt mới nhất scim-unikey-0.1.2a-1.i386.rpm tải về tại đây với cách làm như sau:

1- Mở Control Center - System - Manage localization for your system. Khi đến bước chọn bộ gõ thì chọn SCIM-BRIDGE.

2- Tải file scim-unikey-0.1.2a-1.i386.rpm nói trên về cài.

3-  Nhấn vào Menu - Run Command rồi chạy scim lần đầu. Nhấn chuột phải vào biểu tượng scim trên panel, chọn SCIM Setup. Trong mục IMEngine - Global Setup - Vietnamese chỉ chọn riêng cách gõ Telex - Unicode.

4- Khởi động lại máy. Xong.

Đã thử gõ trong Mandriva 2009 cả KDE lẫn GNOME: OpenOffice, KMail, Evolution, Google Desktop Search, các ứng dụng web như Gmail, GDocs, Zoho Mail, Zoho Writer, ... đều tốt.

Vẫn còn hai lỗi nhỏ: 1/ thỉnh thoảng mất tiếng Việt phải Ctrl+Space hai lần bật tắt tiếng Việt mới gõ tiếp được (lỗi của bản x-unikey-1.0.4), 2/ phải tắt Word Completion trong AutoCorrect.

Trước đây vẫn cố gắng dùng scim với vi-telex-locdt.mim, nhưng cái phím kết thúc từ khá khó chịu. Nay thì thoát.

Đã thử scim-unikey trên Linux Mint 6. Gõ tốt ( nhớ chọn Menu-Administration-Language support-Enable support to enter complex characters).

Những ai yêu Ubuntu nên thử Linux Mint. Linux Mint dựng trên nền Ubuntu, có Control Center gần sánh được với Control Center của Mandriva (thiếu các wizards) và một số thứ bổ xung khá hay. Không trách nó luôn nằm trong TOP 10 của DistroWatch.

1/16/09

Linux hay GNU/Linux và cấu trúc nhân Linux

CẤU TRÚC NHÂN LINUX


Lược dịch: zxc232


Nguyên bản: Anatomy of the Linux kernel


M. Tim Jones (mtj@mtjones.com), Consultant Engineer, Emulex Corp. 06 Jun 2007



I.Tóm tắt lịch sử Linux


Linux hay GNU/Linux?


Khi thì người ta gọi “hệ điều hành Linux”, lúc lại gọi là “hệ điều hành GNU/Linux”. Lí do là vì Linux thực ra là phần nhân của hệ điều hành. Nhiều các ứng dụng khác bổ xung kết hợp với nhân Linux làm thành một hệ điều hành sử dụng được, các ứng dụng đó phần lớn là phần mềm GNU. Vì vậy nhiều người coi gọi “hệ điều hành GNU/Linux” là đúng, còn tên Linux dùng để chỉ phần nhân của hệ điều hành đó.


GNU là các phần mềm của GNU Project, được gọi là GNU packages or GNU programs. Các thành phần chính gồm: bộ dịch GNU Compiler Collection (GCC), các công cụ mã nhị phân GNU Binary Utilities (binutils), lớp vỏ bash shell, thư viện C GNU C library (glibc), và các công cụ lõi GNU Core Utilities (coreutils).


(GNU Project cũng có dự án làm phần nhân hệ điều hành nhưng chưa xong. Vì vậy hiện nay các hệ điều hành mà ta vẫn gọi là Linux dùng nhân Linux của Linus Tovarlds kết hợp với các gói phần mềm nói trên của GNU Project. Do đó gọi hệ điều hành GNU/Linux thì hợp lý hơn – lời ND)


GNU là tên tắt đệ quy của GNU's Not Unix: thiết kế phần mềm giống Unix nhưng là phần mềm tự do (free software) và không chứa mã Unix.


Tóm tắt lịch sử


Trong khi hiện nay Linux khá phổ biến thì lịch sử của nó lại khá mới. Thời kỳ bình minh của máy tính, các nhà lập trình viết chương trình cho phần cứng bằng ngôn ngữ của phần cứng đó. Do chưa có hệ điều hành nên chỉ một ứng dụng (và một user) có thể dùng một phần cứng lớn và đắt tiền tại một thời điểm. Đến 1950 mới bắt đầu có những hệ điều hành sơ khai.


Trong những năm 60, học viện Công nghệ Massachusetts (MIT) và một số công ty kết hợp xây dựng một hệ điều hành thí nghiệm gọi là Multics (Multiplexed Information and Computing Service) cho máy tính GE-645. Một trong những công ty đó, AT&T, bỏ Multics và xây dựng hệ điều hành riêng của mình vào năm 1970 gọi là hệ Unics. Cùng với Unics, ngôn ngữ lập trình C cũng được phát triển và được dùng để viết hệ điều hành sao cho nó không phụ thuộc vào kiến trúc phần cứng.


Hai mươi năm sau, Andrew Tanenbaum tạo nên một phiên bản vi nhân (microkernel) của Unix dùng để chạy trên các máy tính cá nhân nhỏ gọi là hệ MINIX (minimal UNIX). Đó là hệ điều hành nguồn mở đầu tiên tạo cảm hứng cho Linus Torvalds xây dựng nên Linux vào đầu những năm 90.



Hình 1: Lịch sử các phiên bản nhân Linux


Trục đứng là số dòng lệnh, trục ngang là thời điểm công bố. Phiên bản đầu 0.11 (tháng12/1991) có 10.239 dòng lệnh. Phiên bản 2.6.0 (tháng12/2003) có gần 6 triệu dòng lệnh.


Linux phát triển nhanh từ dự án của một người thành một dự án lập trình toàn cầu gồm hàng nghìn nhà lập trình. Một trong những quyết định quan trọng nhất của Linux là nó chấp nhận tuân theo giấy phép phần mềm nguồn mở GPL (GNU General Public License). Giấy phép đó tránh cho nhân Linux không bị khai thác thương mại và cũng cho phép nó kết hợp được với các ứng dụng của GNU Project.



II.Giới thiệu nhân Linux


Một hệ điều hành GNU/Linux có thể phân thành hai vùng: vùng người dùng (User Space) gồm các thư viện C và các phần mềm ứng dụng (soạn văn bản, …); vùng nhân (Kernel Space) gồm ba thành phần chính như hình 2.




Trên cùng là lớp các ứng dụng của người dùng (User Applications). Bên dưới là lớp các thư viện C (GNU C Library). Lớp thư viện phục vụ cho giao diện các lời gọi hệ thống tạo liên kết giữa các ứng dụng và nhân Linux. Giao diện này quan trọng vì nhân Linux và các ứng dụng chiếm các vùng địa chỉ bộ nhớ được bảo vệ khác nhau. Mỗi ứng dụng có vùng địa chỉ ảo riêng còn nhân có một vùng địa chỉ duy nhất.


Nhân Linux có thể chia thành ba lớp. Trên cùng là giao diện các lời gọi hệ thống thực hiện các chức năng cơ bản như đọc, ghi. Bên dưới là phần mã nhân hệ điều hành (kernel code) hoặc chính xác hơn là mã nhân độc lập với kiến trúc vi xử lý (processor). Các mã lệnh trong lớp này dùng chung cho mọi loại processor mà Linux hỗ trợ. Lớp dưới cùng là các mã lệnh phụ thuộc vào kiến trúc từng loại processor (x86, x86-64, …).



III. Các hệ thống con chính của nhân Linux


Hình 3 dưới đây mô tả các hệ thống con chính của nhân Linux.



Hình 3: Các hệ thống con chính của nhân Linux



III.1Nhân là gì?


Như hình 3, nhân Linux thực ra là bộ quản lý các tài nguyên. Các tài nguyên gồm: các tiến trình (process), bộ nhớ (memory) và thiết bị phần cứng. Nhân Linux quản lý các tài nguyên đó và là người điều hành việc truy cập tài nguyên đồng thời của nhiều user. (User trong bài này được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả những gì có nhu cầu sử dụng tài nguyên hệ thống: các tiến trình, các phần mềm, v.v....)


Updated (8/2009): bản đồ nhân linux có ở đây. Nhấn vào từng mục để xem chi tiết.



III.2Giao diện lời gọi hệ thống (System call interface - SCI)


SCI thực hiện các lời gọi hệ thống từ vùng ứng dụng vào nhân Linux. Giao diện này độc lập với kiến trúc bộ vi xử lý ngay cả trong cùng một họ vi xử lý. SCI có thể thực hiện các dịch vụ gọi hàm dồn kênh và tách kênh. Các gói liên quan được cài trong thư mục ẩn ./linux/kernel và phần độc lập với kiến trúc vi xử lý nằm trong ./linux/arch.



III.3 Quản lý các tiến trình (Process management)


Quản lý tiến trình đảm bảo việc thực hiện các tiến trình. Trong vùng nhân Linux, mỗi tiến trình được gọi là một mạch lệnh (thread) và được thể hiện thành một vi xử lý ảo (gồm mã lệnh, dữ liệu, các ngăn xếp và các thanh ghi của CPU). Trong vùng ứng dụng thì chỉ dùng từ tiến trình mặc dù Linux không phân biệt hai khái niệm này (threads và processes). Nhân cung cấp một giao diện lập trình ứng dụng (API) để: tạo tiến trình mới (fork, exec hoặc các hàm POSIX), ngừng tiến trình (kill, exit) và thông tin, đồng bộ giữa các tiến trình (signal hoặc các cơ cấu POSIX).


Quản lý tiến trình còn dùng để chia sẻ CPU giữa các mạch lệnh đang hoạt động. Nhân thực hiện một thuật toán lập lịch cố định bất kể đến các mạch lệnh đang tranh chấp quyền sử dụng CPU. Lịch này cũng hỗ trợ cả chế độ đa xử lý đối xứng (Symmetric MultiProcessing – SMP). Các gói liên quan được cài trong thư mục ẩn ./linux/kernel và phần độc lập với kiến trúc vi xử lý nằm trong ./linux/arch.



III.4 Quản lý bộ nhớ (Memory management).


Một tài nguyên quan trọng khác mà nhân Linux quản lý là bộ nhớ. Để sử dụng bộ nhớ hiệu quả theo cách mà phần cứng quản lý bộ nhớ ảo, bộ nhớ được chia thành các trang (mỗi trang là 4KB đối với phần lớn loại vi xử lý). Linux có các cơ cấu quản lý lượng bộ nhớ khả dụng và các cơ cấu phần cứng để mapping giữa bộ nhớ vật lý và bộ nhớ ảo.


Việc quản lý bộ nhớ còn làm nhiều hơn là chỉ quản lý các trang 4KB. Linux dùng một sơ đồ định vị lát (slab allocator) lên trên mỗi trang. Sơ đồ này dùng trang 4KB làm cơ sở nhưng tạo một cấu trúc bên trong, theo dõi trang nào đầy, trang nào mới dùng một phần, trang nào còn trống.


Khi nhiều user sử dụng bộ nhớ, dung lượng có thể không đủ. Khi đó các trang nhớ được chuyển sang ổ cứng. Quá trình này được gọi là trao đổi (swapping) giữa bộ nhớ và ổ cứng. Các gói phần mềm liên quan đến quản lý bộ nhớ đặt trong thư mục ./linux/mm.



III.5 Hệ thống file ảo (Virtual file system)


Hệ thống file ảo (VFS) là một khía cạnh hay của nhân Linux, cung cấp một giao diện trừu tượng hoá chung cho hệ thống file. VFS tạo nên một lớp chuyển đổi giữa SCI và các hệ thống file của Linux.



Hình 4: VFS tạo nên một lớp chuyển đổi giữa user và các hệ thống file.


Nằm trên cùng của VFS là lớp các API các chức năng như mở, đóng, đọc, viết file. Dưới cùng của VFS là lớp trừu tượng hệ thống file xác định các chức năng lớp trên thực hiện như thế nào. Đó là các plug-in đối với một hệ thống file cho trước (có trên 50 plug-in như vậy). Các phần mềm liên quan đến VFS nằm trong thư mục ./linux/fs.


Bên dưới lớp file hệ thống là bộ đệm cache (buffer cache) gồm các chức năng chung cho mọi hệ thống file (không phụ thuộc vào một kiểu hệ thống file riêng biệt nào). Lớp cache này tối ưu hoá việc truy cập vào các thiết bị vật lý bằng cách giữ dữ liệu trong một thời gian ngắn (hoặc đọc trước sao cho dữ liệu luôn có khi cần). Dưới bộ đệm cache là các driver thiết bị là giao diện của các thiết bị vật lý cụ thể.



III.6 Các ngăn xếp mạng (Network stack)


Các ngăn xếp mạng được thiết kế theo một kiến trúc lớp mô phỏng theo đúng kiến trúc lớp của các giao thức. Nhắc lại rằng IP là giao thức lớp mạng lõi nằm bên dưới giao thức vận chuyển (thường là TCP). Bên trên TCP là lớp socket được gọi đến qua SCI.


Lớp socket là API chuẩn của hệ thống con network, tạo nên một giao diện cho các giao thức mạng khác nhau. Lớp socket quy định một cách quản lý kết nối và di chuyển dữ liệu chuẩn hoá giữa các điểm đầu cuối. Tài nguyên mạng nằm ở thư mục ./linux/net.



III.7 Các driver thiết bị (Device drivers)


Phần lớn mã nguồn của nhân Linux là các driver để điều khiển các thiết bị phần cứng. Cây thư mục của mã nguồn nhân Linux có một thư mục con driver trong đó có các thư mục con ứng với các thiêt bị khác nhau. Mã nguồn driver nằm ở ./linux/drivers.



III.8 Mã lệnh phụ thuộc kiến trúc vi xử lý (Architecture-dependent code)


Phần lớn Linux độc lập với kiến trúc vi xử lý, nhưng cũng có những bộ phận cần phải theo đúng từng kiến trúc cụ thể để hoạt động được và hiệu quả. Thư mục con ./linux/arch chứa các mã nguồn phụ thuộc kiến trúc đó. Ví dụ với một máy trạm tiêu biểu, thư mục đó là i386,



IV.Các đặc điểm đáng chú ý của nhân Linux


Cùng với thời gian, nhân Linux đã sử dụng bộ nhớ và CPU ngày càng hiệu quả hơn và đặc biệt ổn định. Nhưng khía cạnh thú vị nhất của Linux là tính khả chuyển (portability) mặc dù kích cỡ lớn và độ phức tạp của nó. Linux có thể dịch để chạy trên rất nhiều loại processor và nền tảng phần cứng khác nhau đáp ứng các ràng buộc kiến trúc và nhu cầu khác nhau. Một trong những ví dụ là Linux có thể chạy trên một processor có bộ phận quản lý bộ nhớ hoặc không có bộ phận đó. Cổng uClinux của Linux hỗ trợ việc không có bộ phận quản lý bộ nhớ.


Ngoài tính khả chuyển và hiệu quả, dưới đây là một vài đặc tính đáng chú ý khác của nhân Linux.


Linux, với tư cách là một hệ điều hành nguồn mở, là nơi dùng để test các giao thức mới và những đặc điểm tiên phong của các giao thức đó. Linux hỗ trợ một số lớn giao thức mạng từ TCP/IP cho đến các giao thức mạng cao tốc (trên 1 Gigabit Ethernet – 1GbE – cho đến 10GbE). Linux cũng hỗ trợ các giao thức như SCTP (Stream Control Transmission Protocol) có nhiều đặc tính tiên tiến hơn TCP.


Linux cũng là một kernel động, cho phép thêm bớt các thành phần phần mềm trong khi đang chạy. Các thành phần đó gọi là các module tải động được (dinamically loadable kernel modules) có thể được tải vào bộ nhớ khi boot (khi tìm thấy một phần cứng mới cần đến nó) hoặc tải và rút ra khỏi bộ nhớ bất kỳ lúc nào bởi user.


(Một ổ cứng đã cài Windows trên một máy, khi mang ổ cứng sang máy khác phải cài lại Windows. Ngược lại, một ổ cứng cài Linux có thể mang sang máy khác vẫn chạy tốt. Một ví dụ khác: các hệ Linux cài trên ổ USB boot được có thể cắm vào bất kỳ máy nào để chạy.).


Một đặc tính mới của Linux gần đây là nó có thể dùng làm hệ điều hành cho các hệ điều hành khác (hypervisor). Kernel Linux gần đây đã được bổ xung tính năng máy ảo từ nhân (Kernel-based Virtual Machine – KVM). Tính năng này tạo ra một giao diện mới cho vùng người dùng, cho phép các hệ điều hành khác (Linux hoặc Windows) chạy trên KVM. Yêu cầu duy nhất là processor phải hỗ trợ tập lệnh ảo hoá mới.



V.Tìm hiểu tiếp


Trên đây ta mới chỉ lướt qua các nét chính của nhân Linux. Bạn đọc có nhu cầu nên tìm hiểu thêm chi tiết hơn trong danh sách các tài liệu tham khảo cho dưới đây.


Learn:





  • The GNU site describes the GNU GPL that covers the Linux kernel and most of the useful applications provided with it. Also described is a less restrictive form of the GPL called the Lesser GPL (LGPL).




  • UNIX, MINIX and Linux are covered in Wikipedia, along with a detailed family tree of the operating systems.




  • The GNU C Library, or glibc, is the implementation of the standard C library. It's used in the GNU/Linux operating system, as well as the GNU/Hurd microkernel operating system.




  • uClinux is a port of the Linux kernel that can execute on systems that lack an MMU. This allows the Linux kernel to run on very small embedded platforms, such as the Motorola DragonBall processor used in the PalmPilot Personal Digital Assistants (PDAs).




  • "Kernel command using Linux system calls" (developerWorks, March 2007) covers the SCI, which is an important layer in the Linux kernel, with user-space support from glibc that enables function calls between user space and the kernel.




  • "Inside the Linux scheduler" (developerWorks, June 2006) explores the new O(1) scheduler introduced in Linux 2.6 that is efficient, scales with a large number of processes (threads), and takes advantage of SMP systems.




  • "Access the Linux kernel using the /proc filesystem" (developerWorks, March 2006) looks at the /proc file system, which is a virtual file system that provides a novel way for user-space applications to communicate with the kernel. This article demonstrates /proc, as well as loadable kernel modules.




  • "Server clinic: Put virtual filesystems to work" (developerWorks, April 2003) delves into the VFS layer that allows Linux to support a variety of different file systems through a common interface. This same interface is also used for other types of devices, such as sockets.




  • "Inside the Linux boot process" (developerWorks, May 2006) examines the Linux boot process, which takes care of bringing up a Linux system and is the same basic process whether you're booting from a hard disk, floppy, USB memory stick, or over the network.




  • "Linux initial RAM disk (initrd) overview" (developerWorks, July 2006) inspects the initial RAM disk, which isolates the boot process from the physical medium from which it's booting.




  • "Better networking with SCTP" (developerWorks, February 2006) covers one of the most interesting networking protocols, Stream Control Transmission Protocol, which operates like TCP but adds a number of useful features such as messaging, multi-homing, and multi-streaming. Linux, like BSD, is a great operating system if you're interested in networking protocols.




  • "Anatomy of the Linux slab allocator" (developerWorks, May 2007) covers one of the most interesting aspects of memory management in Linux, the slab allocator. This mechanism originated in SunOS, but it's found a friendly home inside the Linux kernel.




  • "Virtual Linux" (developerWorks, December 2006) shows how Linux can take advantage of processors with virtualization capabilities.




  • "Linux and symmetric multiprocessing" (developerWorks, March 2007) discusses how Linux can also take advantage of processors that offer chip-level multiprocessing.




  • "Discover the Linux Kernel Virtual Machine" (developerWorks, April 2007) covers the recent introduction of virtualization into the kernel, which turns the Linux kernel into a hypervisor for other virtualized operating systems.




  • Check out Tim's book GNU/Linux Application Programming for more information on programming Linux in user space.




  • In the developerWorks Linux zone, find more resources for Linux developers, including Linux tutorials, as well as our readers' favorite Linux articles and tutorials over the last month.




  • Stay current with developerWorks technical events and Webcasts.




Get products and technologies





  • Order the SEK for Linux, a two-DVD set containing the latest IBM trial software for Linux from DB2®, Lotus®, Rational®, Tivoli®, and WebSphere®.




  • With IBM trial software, available for download directly from developerWorks, build your next development project on Linux.




Discuss