12/12/09

Quân đội Pháp về phe Mozilla trong cuộc chiến thư điện tử với Microsoft.


Quân đội Pháp về phe Mozilla trong cuộc chiến thư điện tử với Microsoft.


Hãng tin Reuters


By Marie Mawad and David Lawsky Marie Mawad And David Lawsky


Thu Dec 10, 4:57 am ET


PARIS/SAN FRANCISCO (Reuters) – Một phần mềm thư điện tử cá nhân được Mozilla công bố tuần qua có chứa các mã từ một nguồn khác thường - quân đội Pháp - nơi cho rằng sản phẩm nguồn mở đó an toàn hơn sản phẩm cạnh tranh Outlook của Microsoft.


Cách đây 6 năm, chính phủ Pháp bắt đầu tham dự vào phong trào phần mềm nguồn mở, một phong trào đã biến đổi nhiều phần mềm trên thế giới từ độc quyền thành phần mềm tự do.


Quân đội Pháp đã chọn phần mềm nguồn mở sau một cuộc thảo luận nội bộ trong chính phủ bắt đầu từ năm 2003 và lên tới đỉnh điểm vào 6/11/2007 bằng một chỉ thị yêu cầu các cơ quan chính phủ “Tìm kiếm sự độc lập tối đa về công nghệ và thương mại” ( trong lĩnh vực phần mềm, tức là tránh không để bị trói buộc vào các phần mềm thương mại độc quyền)


Các nhà quân sự thấy rằng thiết kế nguồn mở của Mozilla cho phép nước Pháp có thể bổ xung các tính năng an toàn (security extensions), trong khi phần mềm độc quyền, giữ kín mã nguồn của Microsoft không cho phép sửa đổi.


“Chúng tôi bắt đầu bằng một dự án quân sự và nhanh chóng mở rộng nó,” trung tá Frederic Suel thuộc bộ Quốc phòng, một trong những người chịu trách nhiệm về dự án cho biết.


Lực lượng Cảnh sát quốc gia, thời đó còn thuộc bộ Quốc phòng, đã thiết kế và công bố một số công trình của họ cho công chúng dưới tên “TrustedBird”, đứng chung tên Thunderbird với Mozilla.


Quân đội Pháp đã sử dụng phần mềm thư điện tử Thunderbird của Mozilla (và trong một số trường hợp có bổ xung thêm phần bảo mật TrustedBird) trên 80,000 máy tính, mở rộng sang cả các bộ Tài chính, Nội vụ và Văn hóa.


LINUX CŨNG ĐƯỢC CHẤP NHẬN.


Chính phủ Pháp đang bắt đầu chuyển sang các phần mềm nguồn mở khác: Linux thay cho Windows và OpenOffice thay cho Microsoft Office.


Các nhóm lập trình phi lợi nhuận của các nhà lập trình tình nguyện đã làm phần lớn các chương trình nguồn mở như thế, bao gồm phần mềm máy chủ Samba, trình duyệt web Firefox nổi tiếng của Mozilla.


Thunderbird 3 có dùng một số mã của dự án TrustedBird, đã được xây dựng bởi 1000 các nhà lập trình và người dùng khác trên toàn thế giới.


“Thay đổi chính mà các nhà lập trình quân sự đã làm cho phép họ biết chắc chắn khi nào bức thư được đọc. Điều đó cực kỳ quan trọng trong các tổ chức chỉ huy và điều khiển,” David Ascher, giám đốc bộ phận thư điện tử của Mozilla cho biết.


Nhờ thế, Thunderbird đủ tư cách tham gia vào hệ thống thư điện tử nội bộ của NATO và quân đội Pháp đã giới thiệu TrustedBird với NATO.


Các nhà quân sự Pháp “đang giúp đỡ chúng tôi xây dựng một hệ thống các chuyên gia trên toàn cầu viết các phần mềm bổ xung (add-ons) chuyên biệt, nâng tầm nền tảng của chúng tôi thỏa mãn các yêu cầu của người dùng” Ascher cho biết.


Kết quả là có một phần mềm thư điện tử tương thích với Yahoo Mail, GMail và các hệ thống thư điện tử khác và cạnh tranh được với Microsoft Outlook.


Một số nhà quan sát cho rằng quyết định chuyển sang phần mềm nguồn mở góp phần cho công chúng Pháp thấy rằng chính phủ đang tìm cách tiết kiệm tiền ngân sách. Nhưng nhiều chuyên gia phần mềm nói phần mềm tự do cũng có chi phí của nó và nước Pháp biết điều đó.


“Không bao giờ có sự miễn phí hoàn toàn,” đại tá Bruno Poirier-Countansais trong nhóm công nghệ thông tin của Cảnh sát Pháp nói.


Phần mềm mới yêu cầu phải đào tạo lại các chuyên gia tin học và các công chức cũng phải học cách sử dụng.


Poirier-Coutansais nói ban đầu có sự miễn cưỡng chấp nhận Thunderbird “vì cảm giác thiếu tin tưởng khi không có một công ty nổi tiếng hỗ trợ.”


Microsoft có đội ngũ kỹ thuật viên hùng hậu ở Pháp trong một tòa nhà kính hiện đại gắn biểu tượng của công ty ở khu kinh doanh ngoại ô phía tây thủ đô, trong khi đó Mozilla chỉ có 10 nhân viên tại một tòa nhà chung cư xám xịt vô danh, cách xa khu doanh nghiệp của Pari.


Tuy thế, chính phủ Pháp hiện nay đang hài lòng với kết quả thu được. Suel nói rằng họ có thể mở rộng ra ngoài phạm vi chính phủ vì tính năng an ninh của TrustedBird làm cho nó “có thể chuyển cho các công ty quốc tế lớn.”


Nhưng có một chuyên gia ít tin tưởng hơn vào điều đó.


“Thị trường phần mềm chuyên nghiệp đang tỏ ra kháng cự nhiều hơn với phần mềm nguồn mở,” Bernard-Louis Roques, giám đốc điều hành của Truffle Capital IT, một quỹ đầu tư chuyên vào phần mềm cho biết.



12/10/09

Từ một bản chiến lược ICT bị lọt ra ngoài


Từ một bản chiến lược ICT bị lọt ra ngoài.


(Trên giấy tờ, Anh có vẻ là nước kiên quyết đưa PMNM vào ứng dụng nhất như đã nói ở đây và ở đây. Tuy nhiên cuộc chiến vẫn đang tiếp tục).


Chính phủ Anh (do đảng Lao động nắm giữ) đang chuẩn bị một bản chiến lược Công nghệ Thông tin và Truyền thông (ICT - Information and Communication Technologies) cho hệ thống quản lý nhà nước trong thế kỷ 21. Bản dự thảo chưa được công bố nhưng đã lọt ra ngoài. Đảng Bảo thủ đối lập nắm ngay lấy cơ hội, thành lập website “ Make IT better” kể tội các chính phủ của đảng Lao động tiêu tốn tiền vào các dự án IT thất bại và công bố dự thảo chiến lược nói trên để mọi người góp ý, demo cho một cách làm chính sách mới.


Trong website trên, đảng Bảo thủ cho rằng: “ Từ năm 1997, các bộ trưởng của đảng Lao động đã tiêu xấp xỉ 100 nghìn tỷ bảng Anh (nguyên văn £100 billion, 1 billion ở Mỹ là 10 9 - một tỷ, ở Anh là 10 12 - một nghìn tỷ, không hiểu ở đây dùng theo nghĩa nào?) vào các dự án tin học, nhiều hơn bất kỳ nước châu Âu nào khác. Một nghiên cứu gần đây kết luận rằng 70% các dự án tin học là thất bại - nghĩa là hàng chục nghìn tỷ bảng Anh lãng phí vào các hệ thống từ siêu máy tính NHS 20 nghìn tỷ tai họa cho đến hệ thống Home Office được quản lý rất tồi.


Chúng tôi (đảng Bảo thủ) nghĩ có một cách tốt hơn. Không những có thể xây dựng một tầm nhìn về tin học quản lý nhà nước đổi mới hơn, nhiều tham vọng hơn và hiệu quả hơn, chúng tôi còn cho rằng có thể theo đuổi một cách làm chính sách hoàn toàn khác. Thay cho cách làm chính sách đóng kín (trong nội bộ chính phủ) mà bản báo cáo chiến lược này là một điển hình, chúng tôi muốn công khai hóa quá trình làm chính sách, cho phép mọi người đóng góp ý kiến chính sách nên như thế nào. Trong thời kỳ hậu-quan liêu hiện nay, chúng tôi tin rằng việc nhiều người tham gia hợp tác thiết kế sẽ giúp chúng tôi làm ra những chính sách tốt hơn - và điều đó nên được bắt đầu ngay từ bây giờ.”


Chính vì vậy mà trên website trên, đảng Bảo thủ công bố toàn văn dự thảo chiến lược ICT của đảng Lao động để “ chúng tôi muốn nghe ý kiến của các bạn và chúng tôi sẽ trả lời vài tuần sau đó”.


Về mặt này (phương pháp làm chính sách mở), tư bản Anh già cỗi có vẻ chậm hơn “con rồng châu Á” Việt nam. Nghị quyết 71/2006/QH11 và Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 17/2008/QH12 đều đã quy định phải đăng các dự thảo văn bản pháp luật lên website chính phủ để mọi người góp ý. Mặc dù có những chập chững khôi hài kiểu thế này, nhưng cũng có những cái như thế này đáng để xem.


Đây chính là kiểu "chính trị nguồn mở" đã nói trong bài này.


Dự thảo chiến lược nhận xét về tình hình hiện tại: “ Năm 2004, Chính phủ đã chính thức tuyên bố sẽ dùng phần mềm nguồn mở (PMNM) cho những dịch vụ hành chính công khi chúng có hiệu quả nhất (it gave the best value for money). Tuy nhiên có nhiều rào cản cho việc ứng dụng rộng rãi PMNM. PMNM và thị trường IT của nó còn chưa đủ độ chín, không có các sản phẩm đủ cạnh tranh để dễ dàng đưa vào các giải pháp tin học quản lý tổ chức.


Các nhà cung cấp phần mềm thương mại (COTS - commercial of-the-shelf) thường không rõ ràng về hệ thống cung cấp và các điều khoản khi ký hợp đồng với Chính phủ và từ chối xem Chính phủ như một thực thể duy nhất (ví dụ: mỗi bộ là một khách hàng riêng biệt, giá tính như với một khách hàng mới và phần mềm không thể đưa từ bộ này sang bộ khác ). Điều đó làm cho việc so sánh với PMNM rất khó khăn. Ngoài ra, các cán bộ IT của Chính phủ có kỹ năng giới hạn (chỉ quen Windows chẳng hạn ) và thói quen tránh rủi ro (khi quyết định dùng PMNM lạ lẫm ) đã hạn chế việc chấp nhận PMNM và không tạo ra thách thức cho các nhà cung cấp về giải pháp công nghệ.”


Để khắc phục những điều nói trên, chiến lược mới chủ trương: “ Chiến lược về Phần mềm Nguồn mở, Chuẩn mở và Tái sử dụng đã được công bố tháng 2/2009. Nó nói rằng Chính phủ sẽ tích cực và nghiêm chỉnh xem xét các giải pháp nguồn mở cùng với các giải pháp nguồn đóng khi quyết định trang bị phần mềm. Ngoài ra, trong những trường hợp có thể, Chính phủ sẽ tránh để bị trói buộc vào các phần mềm nguồn đóng. Đặc biệt, sẽ tính đến các chi phí từ bỏ phần mềm, mời thầu lại và xây dựng lại ứng dụng trong các quyết định mua phần mềm và sẽ yêu cầu các nhà thầu chào những phần mềm thương mại nêu rõ nếu đang dùng mà thôi không dùng nữa thì phải làm thế nào.


Chiến lược bao gồm một kế hoạch hành động là một chương trình tích cực đảm bảo một sân chơi bình đẳng giữa PMNM và phần mềm thương mại. Nó cũng bao gồm những hành động đảm bảo là Chính phủ sẽ sử dụng các chuẩn mở trong các tiêu chuẩn kỹ thuật mua sắm và sẽ yêu cầu các giải pháp tuân theo chuẩn mở. Chính phủ sẽ tiếp tục chỉ dùng các chuẩn văn bản mở như ODF, PDF và OOXML. Trong đám mây điện toán Chính phủ (G-Cloud) sẽ có kho các ứng dụng quản lý nhà nước (Government Application Store, G-AS), kho này lưu các mã nguồn mở và các giải pháp đang dùng để có thể dùng lại cho toàn bộ hệ thống quản lý nhà nước. ”


Tất cả những điều nói trên mới chỉ trên lời nói. Có lẽ phải khoảng 5 năm nữa mới biết được thực tế như thế nào. Tuy nhiên nó cũng khẳng định một điều: xu thế dùng PMNM là không cưỡng lại được . Đối với nước ta, ứng dụng tin học còn thô sơ, năng suất lao động thấp, nhịp độ công việc chậm, đây là thời cơ ứng dụng PMNM càng sớm càng tốt. Nếu để chậm, cái giá phải trả sẽ lớn hơn rất nhiều.




12/9/09

Malware trốn trong Screensaver tải về từ Gnome-Look.org


Malware trốn trong Screensaver tải về từ


Gnome-Look.org


Malware Hidden Inside Screensaver On Gnome-Look


Tuesday, December 08, 2009


Trên diễn đàn Ubuntu vừa thông báo phát hiện trong gói .deb cài đặt screensaver “WaterFall” tải về từ site gnome-look.org có một malware.


Khi cài gói trên, một script được cài vào máy và thực hiện tấn công DDoS bằng cách ping đến một địa chỉ định trước. Script này cũng có thể tự cập nhật bằng cách tự tải bản mới từ Internet.


Gói cài đặt nói trên đã được xóa khỏi site gnome-look.org. Mặc dù malware này khá thô sơ nhưng cũng là một cảnh báo để mọi người lưu ý khi tải các phần mềm từ Internet tại các địa chỉ không tin cậy.


Khắc phục


Nếu bạn đã tải hoặc cài gói nói trên, chạy lệnh sau từ terminal:
ĐỪNG CHẠY LỆNH NÀY NẾU BẠN KHÔNG CÀI GÓI DEB NÓI TRÊN.


sudo rm -f /usr/bin/Auto.bash /usr/bin/run.bash /etc/profile.d/gnome.sh index.php run.bash && sudo dpkg -r app5552


Chi tiết xem thêm tại đây.



12/4/09

Multimedia trong Linux


Hệ thống multimedia trong Linux.


Multimedia trong Linux khá rắc rối. Bài này ghi lại vài khái niệm tìm hiểu được để đỡ lúng túng khi sử dụng.



I. Một vài khái niệm


Multimedia là từ chung để chỉ các dạng dữ liệu: văn bản (text), âm thanh (audio), ảnh tĩnh (still image), hoạt hình (animation) và phim (video).


Các dữ liệu audio, video được tạo ra (bằng máy ảnh, máy quay video) hoặc được chơi lại (playback, bằng loa, đèn hình TV hay màn hình máy tính) dưới dạng các sóng điện tử liên tục. Các sóng đó phải được chuyển thành dữ liệu số ( encoder, mã hóa: từ sóng thành các dãy số 0,1) rồi nén hoặc không nén để có thể lưu trữ, biên tập, truyền đi trên máy tính. Khi encoder, dữ liệu có thể để nguyên (lossless, không mất) hoặc bỏ đi các phần thừa mà con người không cảm nhận được để giảm dung lượng dữ liệu tiện cho lưu trữ hoặc truyền trên mạng (lossy, có mất dữ liệu).


Để con người có thể thưởng thức được (nghe, xem), các dữ liệu số multimedia nói trên lại được chuyển đổi ngược lại từ các dãy số 0,1 thành sóng điện từ làm kêu loa hoặc vẽ hình lên màn hình. Quá trình chuyển đổi ngược đó gọi là decoder, giải mã.


Một bài hát, khi ghi vào băng từ hoặc đĩa than vẫn ở dạng các sóng âm, khi ghi thành file MP3 là đã được mã hóa sang dạng số. Tương tự, một bức ảnh chụp lên phim được lưu dưới dạng các phổ màu liên tục, khi lưu thành file JPEG, PNG, ... là đã mã hóa sang dạng số.


Codec (viết tắt của en coder/ decoder)là các phần mềm/thuật toán/công nghệ dùng để mã và giải mã (có nén hoặc không) dữ liệu multimedia như nói trên.


Có hàng nghìn codec nhằm vào các mục tiêu khác nhau: codec cho điện thoại phải có độ trễ thấp, chất lượng âm không cần cao; ngược lại, codec để chơi nhạc chất lượng âm phải cao nhưng độ trễ không quan trọng, v.v....


Multimedia Format: sau khi mã hóa, dữ liệu multimedia được lưu thành các file có định dạng (format) khác nhau. Một file ảnh có thể lưu dưới dạng file jpg, png, bmp, ... Một đoạn phim thường gồm ba loại dữ liệu: video, audio và metadata để đồng bộ hình với tiếng. Ba loại dữ liệu đó được lưu chung trong một loại format gọi là media container format (ví dụ avi). Nhiều loại codec khác nhau có thể lưu file cùng một format avi, tất nhiên là chất lượng phim tùy theo codec.


Một vài codec và format chính (có hàng nghìn codec và hàng trăm format):


Microsoft: Microsoft có hai hệ codec phổ biến là Windows Media Audio (WMA) và Windows Media Video (WMV). Mỗi hệ gồm một số codec. Các file được mã hóa bằng hai codec trên được lưu theo media container format ASF (Advanced System Format). Tuy nhiên phần đuôi file (extension) thì tùy: file audio có đuôi là .wma, file video: .wmv nhưng nếu muốn cả hai loại file trên có thể có đuôi là .asf.


Microsoft còn có một container format cổ hơn là AVI (Audio Video Interleave), đuôi file .avi. Cả hai loại format ASF và AVI có thể chứa được nhiều loại codec khác, không bắt buộc phải là WMA và WMV.


MPEG: là tên tắt của Nhóm chuyên gia về ảnh động (Moving Picture Experts Group) chuyên thiết lập các chuẩn ISO về nén và truyền audio, video. MPEG-1 là chuẩn đầu tiên trong đó có MPEG-1 Audio Layer 3 ( MP3) vẫn còn rất phổ biến hiện nay. MP4 (viết tắt của MPEG-4 Part14) là một loại media container format, đuôi file cũng là .mp4.


DivX: DivX codec nổi tiếng vì có khả năng nén các file video lớn xuống dung lượng thấp nhưng vẫn giữ được chất lượng hình khá. Từ DivX 6 có thêm một media container format DivX Media Format (DMF), đuôi file là .divx, dành cho DVD-Video.


RealAudio/RealVideo: là các format của công ty RealNetwork cho file audio và video. Mỗi format này có thể dùng các codec khác nhau. Đuôi file tương ứng là .ra và .rv. Ngoài ra còn có một format tổ hợp cho cả audio và video gọi là Real Media Format có đuôi file là .rm. Các file .ram và .smil dùng cho các link từ website để chạy các file tải về từ Internet (streaming).


FFmpeg: là một dự án nguồn mở xây dựng các phần mềm và thư viện để ghi, chuyển đổi và truyền dẫn audio/video. Thư viện libavcodec cung cấp codec cho hàng chục loại format audio/video khác nhau.


Ogg: là media container format nguồn mở dành cho audio/video chất lượng cao. Trong đó, Ogg Theora là video codec, Ogg Vorbis là audio codec. Trước đây, file .ogg gồm cả audio và/hoặc video. Từ 2007, file .ogg chỉ còn là file audio, file .oga là file audio, file .ogv là file video.


Flash Video: là một media container format dùng chơi video trên các trang web bằng Adobe Flash Player. Có hai format là FLV và F4V, trong đó F4V mới hơn tuân theo chuẩn ISO. Đuôi file .f4v dành cho file video mp4, đuôi .f4a dành cho audio mp4. Nội dung trong file có thể dùng các codec khác nhau: H264, mp3, …


Adobe còn một format nữa là SWF (đuôi file .swf ) chuyên dùng cho đồ họa vector động trên web.



II. ALSA


ALSA (Advanced Linux Sound Architecture) là một hệ thống con của nhân Linux gồm các driver cho sound card và dụng cụ nhạc điện tử (MIDI), các thư viện để lập trình giao tiếp với các thiết bị nói trên và một số công cụ cần thiết (mixer,...). Hiểu đơn giản ALSA tức là driver cho sound card.


Các driver đều dưới dạng module để có thể nạp khi cần. ALSA hiện nay thay thế cho hệ thống cũ OSS (Open Sound System) nhưng vẫn tương thích với các phần mềm OSS. OSS cũng là giao diện với các soundcard nhưng có nhiều hạn chế nên bị thay thế.


Ví dụ trong Mandriva, khi mở Control Center > Hardware > Sound Configuration, ta thấy màn hình sau:


Sound card đang dùng là Intel 82801G, driver là snd_hda_intel.



III. Sound Server


Nếu sử dụng âm thanh đơn giản thì chỉ cần sound driver (alsa, oss, …) là đủ. Nhưng trong những trường hợp phức tạp hơn thì phải có hẳn một máy chủ âm thanh Sound Server trong hệ điều hành làm các nhiệm vụ sau:





  • Nhận các luồng âm thanh từ nhiều nguồn khác nhau (micro hoặc các phần mềm chơi nhạc, phát âm, ...).




  • Chuyển các luồng âm đó đến các thiết bị phát âm (các sound card trên máy, các sound server trên các máy khác trên mạng để phát âm tại đó,...).




  • Thực hiện một số chức năng khác mà sound driver không có.




(còn tiếp)







/home/zxc/DATA/Mydocuments/Dropbox/Bai viet blog/Hệ thống multimedia trong Linux.odt Page4of4




11/24/09

Điểm nhanh vài bản Linux gần đây (tháng 10,11/2009)


Điểm nhanh vài bản Linux gần đây (tháng 10,11/2009).


1- IBM Client for Smart Work (ICSW)


Như đã nói trong một post trước, ICSW là bản Linux liên kết giữa hai công ty Canonical và IBM được tung ra ở thị trường Mỹ hôm 20/10/2009 (và trước đó tại thị trường châu Phi) để cạnh tranh với Windows 7.


Khi cài thử thì thấy:





  • Về cơ bản, ICSW là toàn bộ bản Ubuntu 8.04 của Canonical, có cài sẵn bộ Lotus Symphony và Notes của IBM. Sở dĩ chọn Ubuntu 8.04 vì đó là bản hỗ trợ dài hạn (Long Term Support – LTS) đến tận năm 2011.




  • Giao diện và các phần mềm giữ nguyên của Ubuntu 8.04. Riêng giao diện Lotus của IBM như sau:





Bộ Lotus Symphony Office của IBM xây dựng trên nền OpenOffice nhưng thay giao diện khác như hình trên.


Ngoài cột Propeties ở bên phải như trên hình, IBM tập hợp tất cả các phần mềm khác (bảng tính, trình diễn, email, address book,... thậm chí cả trình duyệt) vào một màn hình và mở trong các tab khác nhau (xem hình dưới). Cách tổ chức này khá hay và tiện.



Xem qua bản này và bản tính giá của IBM thì thấy đối tượng nhắm đến là khách hàng doanh nghiệp với ưu thế chính là tiết kiệm chi phí:





  • Không cần nâng cấp phần cứng, Ubuntu (và Xubuntu) chạy được trên các máy cấu hình thấp hiện có.




  • Tính tổng chi phí phần mềm, kể cả phần mềm máy chủ cộng tác (Domino) và các dịch vụ khác của IBM thì rẻ hơn Microsoft Windows 7+ Exchange (và các phần mềm máy chủ khác) + Outlook, …




Đối với chúng ta thì vấp ngay phải vấn đề bộ gõ tiếng Việt. Tôi chưa tìm được, hoặc chưa biết cách làm thế nào để gõ được tiếng Việt trong Symphony.


2- OpenSUSE 11.2:


Novell công bố bản này hôm 12/11/2009. Ban đầu, openSUSE dùng KDE là giao diện mặc định (default), một số phiên bản gần đây chuyển sang GNOME, nhưng do yêu cầu người dùng bản 11.2 này lại quay về với KDE (tất nhiên là vẫn có bản GNOME riêng).


Cũng như với Mandriva, KDE 4.3 trên openSUSE đã khá nhuyễn. Tuy nhiên, font chữ trong OpenOffice thì hơi gai, không đẹp bằng Mandriva. Trình tìm kiếm Strigi có tích hợp Nepomuk nhưng lại bị lỗi cài đặt không chạy được. Nepomuk cũng mới chỉ ở mức file, chưa sang đến email và web như Mandriva.


OpenSUSE có kiểu bổ xung phần mềm restricted (dùng từ của Ubuntu) khá “cưỡng bức”. Sau khi cài xong, nếu cài thêm bất kỳ phần mềm nào, một lô phần mềm khác như các codecs, font của Microsoft, giải nén zip, … cũng được tự động cài.


Bộ gõ tiếng Việt scim-unikey cũng có vấn đề. Nếu dùng Unikey, gõ trong OpenOffice rất chậm và phải có phím kết thúc từ. Dùng Unikey Classic thì gõ được nhưng thường xuyên bị mất tiếng Việt, phải Ctrl+Space để bật lại. Và cũng như trên các bản Linux khác gần đây, icon của scim-unikey không hiển thị được trên system tray. Có lẽ phải dùng scim gốc hoặc ibus-unikey, chấp nhận phím kết thúc từ vậy.


3- Fedora 12.


Fedora 12 được công bố ngày 17/11/2009. Bản này ngay khi cài đã thấy “khệnh” rồi. Grub boot loader của nó không nhận được bản Linux nào đã có trên ổ cứng ngoài chính nó và Windows. Khi add bằng tay các bản Linux khác cũng không boot được.


Fedora Live là bản kém thân thiện nhất với người dùng mà tôi đã thử. Bản KDE không có Firefox và OpenOffice. Bản GNOME cũng không có OpenOffice và các trình ứng dụng khác cũng rất ít. Trình quản lý phần mềm không cho biết dung lượng sắp cài là bao nhiêu, các thông số theo dõi quá trình download và cài cũng rất ít. Chỉ có hai kho phần mềm mặc định, không có kho các phần mềm “ngoài luồng” và cũng không có giao diện để bổ xung kho (chắc là phải thêm vào file cấu hình).


Bản KDE không cho cài thêm các phần mềm phụ như nautilus-dropbox, scim-unikey với thông báo cụt lủn “có lỗi bất ngờ”. Điều cũng bất ngờ là gõ tiếng Việt scim không phải kết thúc từ. KOffice vẫn là 1.6 mặc dù hiện đã có 2.1 (Sorry, KOffice 2.1 hiện vẫn là bản đang test, chưa dành cho sử dụng đại trà). Đây là bản Office đang lên, có phần soạn công thức KFormula khá trực quan (giống MS Office) và nhiều trình tiện ích hơn OpenOffice.


Gần đây, nghe nói có một hội nghị phần mềm nguồn mở phát đĩa Ubuntu và Fedora để phổ biến. Fedora có lịch sử lâu đời, phần mềm dịch sẵn cho nó nhiều, có Red Hat đứng đằng sau, đội fan “già” ở Việt nam chắc cũng đông. Nhưng người mới làm quen với Linux thì không nên dùng.


4- Google Chrome OS.


Google Chrome OS chỉ mới công bố mã nguồn hôm 19/11/2009 (bản mã máy tới cuối năm 2010 mới có) đã gây ầm ĩ trên các phương tiện truyền thông chủ yếu là vì tầm vóc khổng lồ của Google. Tôi đã có một bài điểm qua về nó tại đây và về hạ tầng mà nó phục vụ tại đây. và đây.


Đây là hệ điều hành dùng nhân Linux (Linux kernel), dựa trên nền Debian và giao diện là web browser. Điểm đáng chú ý của nó là thiết kế an ninh (security) mới hoàn toàn, có dịp sẽ tìm hiểu trong một post khác.


Hiện tại nó mới chạy trên netbook và tập hợp được nhiều đại công ty tin học ủng hộ. Nhưng Chrome OS chưa thể thành công trong một vài năm tới vì hạ tầng điện toán đám mây, nhất là các ứng dụng, chưa đủ độ chín.







/home/zxc/DATA/Mydocuments/Dropbox/Bai viet blog/Điểm qua vài bản Linux gần đây.odt Page 1 of4




11/20/09

Vài thủ thuật OpenOffice Writer


Vài thủ thuật cho OpenOffice Writer.









I- Tiêu đề (Heading)


Heading là các tiêu đề phân theo từng cấp và được đánh số tự động. Ví dụ:


Chương I: Tiêu đề cấp 1


I.1 Tiêu đề cấp 2


I.1.1 Tiêu đề cấp 3


Heading là công cụ rất tiện khi viết và đọc các văn bản dài có cấu trúc.



I.1-Tạo Heading:


Heading đã có sẵn trong danh sách các Style trên Format Toolbar:


Định đặt dòng nào làm Heading thì trước hoặc sau khi gõ xong, để con trỏ chuột ở dòng đó (không cần bôi đen cả dòng) rồi nhấn vào mũi tên trỏ xuống ở ô Style hình trên (bên trái ô Font), chọn Heading trong danh sách xổ xuống.


Heading có sẵn không đánh số ở đầu như trong ví dụ trên. Muốn đánh số tự động, nhấn vào menu Tools > Outline Numbering, màn hình sau xuất hiện:


Trong màn hình trên, chọn từng cấp Heading rồi chọn Number ở dưới. Mục Separator để chọn ký tự phân cách số và text của Heading. Trong ví dụ trên, trước số là từ “Chương”, sau số của Heading 1 là dấu hai chấm và dấu cách như hiển thị trong cột bên phải.


Số đã chọn ở trên sẽ được đánh tự động, người dùng không phải gõ. Khi xóa một heading hoặc di chuyển nó sang vị trí khác, số cũng tự động thay đổi.


Để định dạng Heading theo ý muốn, nhấn vào menu Format > Styles and Formatting. Trong màn hình tiếp, nhấn phím phải chuột vào Heading muốn định dạng lại. Màn hình sau xuất hiện:



Trong màn hình trên có thể thay đổi rất nhiều thứ theo ý muốn.



I.2-Nâng cấp, hạ cấp, di chuyển Heading


Khi con trỏ ở trong vùng một heading nào đó, toolbar sau xuất hiện:


Nhóm bốn nút có mũi tên chỉ sang trái, phải dùng để nâng hoặc hạ cấp heading (ví dụ từ heading 1 xuống heading 2). Nếu một heading định nâng/hạ cấp có các heading cấp thấp hơn ở bên dưới thì dùng nút có hai mũi tên. Khi đó, ví dụ heading 1 xuống thành heading 2 và các heading 2, 3 bên dưới nó sẽ xuống thành heading 3,4.


Nhóm bốn nút có mũi tên chỉ lên, xuống cho phép di chuyển một heading và tất cả phần văn bản bên dưới nó đến vị trí khác. Chỉ cần nhấn chuột vào heading (không cần bôi đen) rồi nhấn nút thích hợp.



I.3-Đọc, di chuyển trong văn bản theo heading:


Khi văn bản đã có heading, nhấn vào menu View > Navigator, cửa sổ sau xuất hiện:


Nhấn chuột vào mép trên cửa sổ, rê nó xuống dưới ô Style đến khi thấy xuất hiện một vạch đen thẳng đứng thì nhả chuột ra. Cửa sổ Navigator sẽ có vị trí mới ở bên trái màn hình. Nhấn vào các dấu + bên trái Heading sẽ thấy như sau:


Muốn di chuyển đến tiêu đề nào thì nhấn chuột vào nó ở cột bên trái. Bật tắt cửa sổ Navigator này bằng nút trên toolbar.



II-Tạo mục lục tự động.


Khi đã thiết lập các tiêu đề bằng Heading như trên thì có thể tạo mục lục tự động. Để con trỏ chuột vào vị trí định tạo mục lục rồi nhấn menu Insert > Index and Tables > Index and Tables. Màn hình sau xuất hiện:


Trong màn hình trên:





  • Title: gõ vào từ “Mục lục” thay cho “Table of Contents”.




  • Type: chọn Table of Contents như hình trên.




  • Protected … được đánh dấu chọn sẵn để không cho thay đổi mục lục bằng tay.




  • Evaluate up to level: mặc định mục lục được lập chi tiết đến heading 10 (nếu có).




  • Outline: đã chọn sẵn, quy định mục lục sẽ lập dựa vào heading.




  • Tab Styles: định dạng cho mục lục. Mỗi cấp mục lục (level) ứng với một style là Contents 1, 2, 3,... Muốn thay đổi Style nào nhấn vào đó rồi nhấn nút Edit ở bên dưới.




Sau khi nhấn OK, mục lục sẽ xuất hiện như thế này:





Mục lục




I- Tiêu đề (Heading) ..........................................1


I.1-Tạo Heading: ...........................................1


I.2-Nâng cấp, hạ cấp, di chuyển Heading.......... 3


I.3-Đọc, di chuyển trong văn bản theo heading: ..3


II-Tạo mục lục tự động. ......................................4


III-Bản mẫu (Template) .......................................5


IV- Bổ xung tính năng (Extensions) .......................8




Sau khi đã tạo mục lục, nếu thay đổi các heading (sửa nội dung, chuyển chỗ, xóa hoặc thêm heading, …) mục lục sẽ tự động cập nhật các thay đổi đó khi đóng rồi mở lại file văn bản. Cũng có thể cập nhật mục lục bằng cách nhấn phím phải chuột vào vùng mục lục rồi chọn Update Index/Table.



III-Bản mẫu (Template)


Để soạn một văn bản:





  • Nhanh




  • Thống nhất như nhau cho cùng một loại văn bản




nên dùng các template. Ví dụ tạo một template thông dụng như sau:


Trong màn hình Writer, mở một văn bản mới chưa có tên. Nhấn vào menu Format > Page, rồi chuyển đến tab Page trong màn hình sau:






  • Format: chọn khổ giấy là A4




  • Margins: chọn kích thước các lề giấy theo nhu cầu.




  • Chuyển sang các tab khác (Background, Header, …) để thiết lập nếu cần. Làm xong nhấn OK đóng màn hình lại.




Nhấn tiếp vào menu Format > Styles and Formatting. Trong màn hình Styles, nhấn phím phải chuột vào Default, chọn Modify rồi quy định kiểu font, cỡ font, màu font, khoảng cách dòng, ... mặc định (ví dụ Times New Roman, cỡ 14,..). Các thiết lập ở đây sẽ áp dụng cho những đoạn văn bản bình thường.


Nhấn tiếp phím phải chuột vào các style khác như Heading 1, … rồi thiết lập các mục tương tự như trên theo ý người dùng.


Nhấn tiếp vào menu Tools > Outline Numbering rồi quy định kiểu đánh số các heading như đã nói ở phần trên.


Nhấn vào mũi tên bên phải ô Zoom ( ), chọn Optimal để quy định tỷ lệ phóng to văn bản trên màn hình.


Nhấn vào menu File > Printer Settings để thiết lập các thông số in ấn.


Nhấn chuột vào phần Footer ở cuối trang. Chèn vào đó các mã sau:





  • Gõ từ “Page” (hoặc Trang) rồi nhấn menu Insert > Fields > Page Number để chèn số thứ tự của trang. Gõ tiếp từ “of” (hoặc “của” hay “/”) rồi nhấn Insert > Fields > Page Count để chèn tổng số trang của văn bản.




  • Chuyển con trỏ sang bên trái cụm từ trên, nhấn Insert > Fields > Other. Trong màn hình xuất hiện, ở cột Type chọn File name, cột Format chọn Path/File name để chèn tên file kèm đường dẫn.




Cuối cùng nhấn vào menu File > Save as. Trong màn hình xuất hiện, đặt tên file, ví dụ “Bản mẫu văn bản”, mục File type chọn “ODF Text Document template (.ott)” rồi lưu file Bản mẫu văn bản.ott vào một thư mục nào đó.


Nhấn vào menu File > Template > Organize, màn hình sau xuất hiện:



Nhấn chuột vào My Templates ở cột bên trái, nhấn tiếp vào nút Commands > Import Templates rồi tìm mở file “Bản mẫu văn bản.ott” vừa tạo. Tên file sẽ xuất hiện ở cột trái như hình trên.


Nhấn chuột vào tên file “Bản mẫu văn bản.ott” ở cột trái, nhấn tiếp vào nút Commands > Set as Default Template để quy định bản mẫu đó là mặc định cho các văn bản mới sau này.


Template đã nhập được lưu vào /home/<username>/.ooo3/user/template.


Đóng Writer lại rồi mở ra, văn bản mới Untitled 1 (chưa có tên) sẽ mặc nhiên có tất cả những settings đã thiết lập ở trên cho template, không phải làm lại cho các lần sau.


Ví dụ, sau khi đã lưu file, phần Footer sẽ có dạng như sau:



Writer có rất nhiều template cho đủ loại văn bản, tải tự do từ Internet về dùng và sửa theo ý muốn. Ví dụ xem tại đây.



IV- Bổ xung tính năng (Extensions)


Cũng như Firefox, OpenOffice là phần mềm nguồn mở cho mọi người có thể viết các đoạn chương trình nhỏ bổ xung tính năng theo ý mình (extensions). Một số extensions nên dùng đã giới thiệu ở đây và ở đây.



11/18/09

Làm gì sau khi cài Ubuntu 9.10 (tiếp theo)


Vài thủ thuật dùng Ubuntu.


ZXC232 biên soạn, dựa trên bản gốc có link ở trên.



Cài codecs để chạy các file media và hỗ trợ DVD


1- Bổ xung kho phần mềm Mediabuntu.


Medibuntu (Multimedia, Entertainment & Distractions In Ubuntu) là một kho các gói phần mềm không có trong Ubuntu vì các lý do pháp lý (bản quyền, bằng phát minh, giấy phép, …). Bản Ubuntu gốc chỉ gồm các phần mềm tự do (free software).


Danh sách các phần mềm trong Medibuntu xem tại đây.


Mở Terminal, chạy các lệnh sau (copy rồi paste vào terminal) để bổ xung kho Medibuntu vào Ubuntu:


sudo wget http://www.medibuntu.org/sources.list.d/$(lsb_release -cs).list --output-document=/etc/apt/sources.list.d/medibuntu.list &&


sudo apt-get -q update &&


sudo apt-get --yes -q --allow-unauthenticated install medibuntu-keyring &&


sudo apt-get -q update


2- Cài gói non-free-codecs


Sau khi add kho Medibuntu, mở Synaptic và tìm cài gói non-free-codecs. Đây là gói tổng hợp (meta-package) gồm cả ubuntu-restricted-extras và một số thứ khác. Dưới đây là danh sách chi tiết:


cabextract freepats gsfonts-x11 gstreamer0.10-ffmpeg gstreamer0.10-plugins-bad gstreamer0.10-plugins-bad-multiverse gstreamer0.10-plugins-ugly gstreamer0.10-plugins-ugly-multiverse java-common liba52-0.7.4 libamrnb3 libamrwb3 libass3 libavcodec52 libavformat52 libavutil49 libcdaudio1 libcelt0 libdc1394-22 libdca0 libdirac0c2a libdvdnav4 libdvdread4 libenca0 libfaac0 libfaad0 libffado1 libfftw3-3 libfreebob0 libgsm1 libid3tag0 libiptcdata0 libjack0 libkate1 libmad0 libmimic0 libmjpegtools-1.9 libmms0 libmodplug0c2 libmp3lame0 libmp4v2-0 libmpcdec3 libmpeg2-4 libofa0 libpostproc51 libquicktime1 libschroedinger-1.0-0 libsidplay1 libsoundtouch1c2 libswscale0 libtwolame0 libwildmidi0 libx264-67 libxml++2.6-2 libxvidcore4 non-free-codecs odbcinst1debian1 sun-java6-bin sun-java6-jre sun-java6-plugin ttf-liberation ttf-mscorefonts-installer ubuntu-restricted-extras unixodbc unrar w64codecs (Total about 170 MB)


CHÚ Ý: hai mục trên cũng đã có trong perfectbuntu, chỉ thiếu libamrnb3 và libamrwb3. Do đó nếu đã chạy perfectbuntu rồi thì không cần làm như trên nữa.


3-  Thêm một số codecs, DVD và trình mediaplayer VLC và Mplayer


Để chơi DVD mã hóa, phải có libdvdcss2. Trình VLC và Mplayer là hai trong số những trình chơi media tốt nhất hiện nay. Cài bằng Synaptic hoặc bằng dòng lệnh các gói sau:


sudo apt-get install libdvdcss2 gxine libxine1-ffmpeg vlc mplayer mencoder (khoảng 80MB).



Dùng Gnome Control Center


Gnome Control Center tập hợp các mục trong System vào một màn hình. Dùng nó đỡ phải dò tìm trong các menu Preferences và Administration. Mặc định nó bị tắt. Để bật lên, nhấn vào System > Preferences > Main menu. Trong màn hình Main Menu, chọn System ở cột bên trái rồi đánh dấu chọn Control Center ở cột bên phải. Sau đó, Control Center sẽ xuất hiện ở menu System.



Thiết lập profile chung của Firefox và Thunderbird


Mọi thiết lập của Firefox hoặc Thunderbird đều nằm trong một thư mục ẩn. Ví dụ với Firefox là /home//.mozilla/firefox/ckwzugd4.default. (tên của thư mục cuối có thể khác). Trong đó có bookmarks, histories, các extensions, cache, email, v.v... Các nội dung trong các thư mục đó tạo nên profile của Firefox hoặc Thunderbird.


Nếu trên máy cài từ hai hệ điều hành trở lên (Windows, Linux) và đều dùng Firefox, Thunderbird, có thể tạo một profile chung để dù chạy hệ điều hành nào thì Firefox và Thunderbird cũng vẫn giống nhau về mọi thứ. Cách làm như sau:


Mở terminal, chạy lệnh:


firefox   -P     hoặc


thunderbird    -P


Màn hình sau xuất hiện:




Trong lần chạy đầu, chỉ có một profile default trong danh sách. Đó chính là profile mặc định nằm trong thư mục ẩn nói trên.


Nhấn vào Create Profile, tạo một profile khác ở thư mục dùng chung cho các hệ điều hành, My Documents chẳng hạn.


Sau đó, dù đang ở hệ điều hành nào, Firefox cũng dùng một profile chung. Với Thunderbird, trong profile có các thư mục email, nên ở hệ điều hành nào email cũng như nhau.



Quản lý hệ thống


1- StartUp Manager


Chương trình này dùng quản lý, thay đổi màn hình khởi động và boot menu, tìm cài từ Ubuntu Software Center (gõ từ Boot vào ô tìm kiếm). Sau khi cài, chạy từ System > Administration > StartUp-Manager.




2- BootUp-Manager:


Chương trình này cũng tìm cài từ Ubuntu Software Center như trên. Sau khi cài, chạy từ System > Administration > BootUp-Manager.




Trong màn hình trên, các dịch vụ tự động chạy khi boot máy được đánh dấu chọn ở cột Activate. Có thể bỏ bớt một số không cần thiết để tiết kiệm bộ nhớ và giảm tải cho CPU:


• Common Interface to speech synthesizers: bộ tổng hợp tiếng nói.


• Samba nameservice …. : nếu không nối mạng Windows.


• Bluetooth services: nếu không dùng thiết bị bluetooth.


• Fast remote file …: nếu không cần đồng bộ file với máy khác.


• Scanner services: nếu không dùng scanner.


• v.v.....


3-Bỏ khởi động các chương trình không cần thiết


Vào System > Preferences > Startup Applications. Một số chương trình trong đó có thể không cần khởi động (Bluetooth Manager, Visual Assistances,...).


4- Thiết lập tường lửa


Ubuntu có tường lửa (ufw - Uncomplicated Firewall) cài sẵn nhưng không kích hoạt. Mở Ubuntu Software Center, search từ “gufw” rồi cài Firewall Configuration là giao diện của ufw. Chạy từ System > Administration > Firewall Configuration.




Đánh dấu mục Enabled để kích hoạt tường lửa. Nhấn nút Add để lập các quy tắc.


5- Cài chương trình chống virus


Nếu hay giao dịch file với các máy Windows thì nên cài một chương trình antivirus để quét virus hộ các máy đó. Mở Ubuntu Software Center, search từ “virus” rồi chọn cài, ví dụ Virus Scanner. Cài xong chạy từ Applications > System Tools > Virus Scanner.




6- Vài thứ khác:


Nautilus-scripts và Ubuntu Tweak xem ở đây.


7- Gỡ các gói phần mềm mồ côi.


Khi cài một phần mềm mới, các phần mềm phụ thuộc (dependency) cần thiết để chạy phần mềm đó cũng được cài theo. Nhưng khi gỡ bỏ (remove) phần mềm chính, các phần mềm phụ thuộc lại không được gỡ và trở thành phần mềm thừa, “mồ côi”, không liên quan đến phần mềm nào cả.


Dùng lệnh: sudo apt-get autoremove


Hoặc cài phần mềm gtkorphan (từ Synaptic Package Manager).


Trong các bản Ubuntu trước, các phần mềm tải về từ Internet để cài hoặc update được lưu trong thư mục /var/cache/apt. Khi cài xong, các gói cài đặt đó cũng không cần nữa. Xóa nó đi bằng lệnh:


sudo apt-get clean


Ubuntu 9.10 hình như cài xong là xóa luôn nên có thể không cần đến lệnh trên.


8- Bổ xung font


Khi chạy perfectbuntu hoặc ubuntu-restricted-extra hoặc non-free-codecs đã nói ở trên, một số font Windows như Arial, Time New Romans, ... cũng được cài.


Nếu muốn bổ xung thêm các font khác cho hệ thống (user nào đăng nhập vào máy cũng dùng được):


• Nhấn Alt+F2 để mở hộp thoại Run Command.


• Chạy lệnh gksu nautilus để mở Nautilus bằng quyền root.


• Copy các file font thêm (hoặc thư mục font thêm) vào /usr/share/fonts.


Để bổ xung font cho riêng user đang đăng nhập:


• Nhấn vào menu Places > Home Folder, trong màn hình Nautilus nhấn vào menu View > Show Hidden Files.


• Nhấn tiếp menu File > Create Folder . Đặt tên folder mới là .fonts (có dấu chấm đằng trước để chỉ đó là folder ẩn).


• Copy các font thêm vào thư mục đó.


9- Chỉnh sửa menu và phím tắt để mở menu


Menu mặc định của Ubuntu là dạng menu bar gồm ba mục: Applications, Places và System. Có thể làm cho gọn hơn và quen thuộc hơn như sau:


• Nhấn phím phải chuột vào menu bar nói trên, chọn Remove from panel.


• Nhấn tiếp phím phải chuột vào panel, chọn Add to Panel.


• Trong danh sách hiện lên, chọn Main Menu rồi nhấn nút Add. Menu bây giờ xuất hiện trên panel chỉ còn một icon . Nhấn vào đó menu hiện lên giống kiểu Windows.


Trong Windows, phím Start trên bàn phím là phím tắt để bật menu chính Start. Trong Ubuntu, mở terminal chạy lệnh sau:


gconftool-2 --set /apps/metacity/global_keybindings/panel_main_menu --type string "Super_L"


Từ nay, nhấn phím Start, menu chính sẽ hiện lên. Nếu vẫn dùng menu bar mặc định thì menu Applications sẽ xuất hiện.